More forecasts: 30 day weather forecast Orlando

6.000 CEO cay đắng thừa nhận: Dù đầu tư đến 250 tỷ USD, AI gần như không đóng góp gì cho kinh tế Mỹ

5 hours ago 1
Quảng Cáo

0943778078

Một nghiên cứu gây chấn động vừa được Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Mỹ công bố đã phơi bày sự thật cay đắng về làn sóng đầu tư AI trị giá hàng trăm tỷ USD: sau 3 năm ứng dụng, công nghệ này hầu như không mang lại tác động thực sự đến năng suất lao động hay tăng trưởng kinh tế Mỹ.

Cuộc khảo sát gần 6.000 giám đốc điều hành cấp cao, bao gồm CEO và CFO của các công ty tại Mỹ, Anh, Đức và Australia, cho thấy bức tranh đáng thất vọng.

Mặc dù khoảng 70% các công ty cho biết đang sử dụng một hình thức trí tuệ nhân tạo nào đó, nhưng gần 90% trong số họ thừa nhận AI không có tác động gì đến số lượng nhân viên hay năng suất lao động trên mỗi nhân viên trong ba năm qua.

 Dù đầu tư đến 250 tỷ USD, AI gần như không đóng góp gì cho kinh tế Mỹ- Ảnh 1.

CEO OpenAI, ông Sam Altman

Đáng chú ý, các giám đốc điều hành chỉ dành trung bình 1,5 giờ mỗi tuần để làm việc với công nghệ này, và 1 trong 4 người nói họ chưa bao giờ sử dụng AI tại nơi làm việc.

Phân tích từ Goldman Sachs càng làm rõ thêm bức tranh ảm đạm này. Jan Hatzius, kinh tế trưởng của Goldman Sachs, khẳng định trong cuộc phỏng vấn với Atlantic Council rằng chi tiêu đầu tư vào AI đã có "gần như bằng không" đóng góp vào tăng trưởng GDP Mỹ trong năm 2025.

"Chúng tôi thực sự không coi đầu tư AI là yếu tố mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng," ông Hatzius nói. "Tôi nghĩ có rất nhiều thông tin sai lệch về tác động của đầu tư AI đối với tăng trưởng GDP Mỹ năm 2025, và nó nhỏ hơn nhiều so với những gì thường được nhận thức."

Con số đầu tư khổng lồ càng làm nổi bật sự mâu thuẫn này. Các công ty công nghệ như Meta, Amazon, Google và OpenAI đã chi hàng tỷ USD năm ngoái để đầu tư vào AI, với tổng mức chi tiêu doanh nghiệp đạt hơn 250 tỷ USD trong năm 2024.

Họ dự kiến sẽ chi nhiều hơn nữa, khoảng 700 tỷ USD trong năm nay cho hàng chục trung tâm dữ liệu mới để huấn luyện và vận hành các mô hình tiên tiến. Tuy nhiên, cơn sốt chi tiêu này dường như chưa mang lại kết quả như kỳ vọng.

Tại sao lại như vậy?

Ông Hatzius chỉ ra một lý do quan trọng là phần lớn thiết bị cung cấp năng lượng cho AI đều được nhập khẩu. Trong khi các công ty Mỹ đang chi hàng tỷ USD, việc nhập khẩu chip và phần cứng đã bù trừ những khoản đầu tư đó trong các tính toán GDP.

 Dù đầu tư đến 250 tỷ USD, AI gần như không đóng góp gì cho kinh tế Mỹ- Ảnh 2.

"Phần nhiều khoản đầu tư AI mà chúng ta đang thấy ở Mỹ góp phần vào GDP của Đài Loan và GDP của Hàn Quốc nhưng không thực sự đóng góp nhiều cho GDP Mỹ," ông nói.

Tình huống này đang khiến các nhà kinh tế nhớ lại nghịch lý năng suất Solow từ 40 năm trước. Năm 1987, nhà kinh tế học và người đoạt giải Nobel Robert Solow đã viết một dòng nổi tiếng: "Bạn có thể thấy thời đại máy tính ở khắp mọi nơi trừ trong các số liệu thống kê năng suất."

Khi đó, các công ty đổ hàng tỷ USD vào máy tính lớn và PC, nhưng tăng trưởng năng suất Mỹ thực sự chậm lại, giảm từ 2,9% mỗi năm xuống chỉ còn 1,1% bất chấp khoản đầu tư CNTT khổng lồ.

Torsten Slok, kinh tế trưởng của Apollo, hiện đang lặp lại trực tiếp nhận xét của Solow: "AI có mặt ở khắp mọi nơi trong câu chuyện kinh tế vĩ mô nhưng bạn không thấy nó trong dữ liệu. Ngày nay, bạn không thấy AI trong dữ liệu việc làm, dữ liệu năng suất hay dữ liệu lạm phát."

Nghịch lý trong năng suất mà AI mang lại

Nghịch lý này trở nên đặc biệt khó hiểu khi ở cấp độ vi mô, AI thực sự có hiệu quả. Các thí nghiệm có kiểm soát cho thấy năng suất cá nhân tăng 34-40%, đặc biệt đối với những người lao động ít kinh nghiệm hơn.

 Dù đầu tư đến 250 tỷ USD, AI gần như không đóng góp gì cho kinh tế Mỹ- Ảnh 3.

Có thể phải mất nhiều năm nữa, AI mới thực sự tác động đến tăng trưởng của nền kinh tế

Nhân viên dịch vụ khách hàng, lập trình viên và người viết đều cho thấy mức tăng thực sự trong môi trường thử nghiệm. Tuy nhiên, khi nhìn vào cấp độ công ty, 80-95% các dự án thí điểm AI không bao giờ mở rộng thành công.

Nghiên cứu tiết lộ chính xác lý do: những người có hiệu suất cao nhất chỉ thấy mức tăng nhẹ, đôi khi thậm chí chất lượng giảm nhẹ; 80% thời gian tiết kiệm được thông qua AI được phân bổ lại cho các nhiệm vụ khác thay vì tăng sản lượng.

Việc mở rộng quy mô đòi hỏi cơ sở hạ tầng dữ liệu mới, thiết kế lại quy trình và đào tạo nhân viên mà hầu hết các công ty đơn giản là chưa cam kết thực hiện; hầu hết việc sử dụng AI vẫn còn nông cạn - soạn thảo email, tóm tắt tài liệu, tiết kiệm thời gian nhỏ mà hầu như không được ghi nhận trong các số liệu toàn công ty.

Tuy nhiên, vẫn còn hy vọng. Bùng nổ công nghệ thông tin của những năm 1970 và 1980 cuối cùng đã nhường chỗ cho sự gia tăng mạnh mẽ về năng suất vào những năm 1990 và đầu những năm 2000, bao gồm mức tăng 1,5% tăng trưởng năng suất từ năm 1995 đến 2005 sau nhiều thập kỷ suy giảm.

Erik Brynjolfsson, giám đốc Phòng thí nghiệm Kinh tế Kỹ thuật số của Đại học Stanford, cho rằng xu hướng có thể đã bắt đầu đảo ngược. Ông quan sát thấy GDP quý 4 đang theo dõi tăng 3,7%, cho thấy khả năng bùng nổ năng suất. Phân tích của chính ông chỉ ra mức tăng năng suất Mỹ là 2,7% năm ngoái, mà ông cho là do quá trình chuyển đổi từ đầu tư AI sang thu hoạch lợi ích của công nghệ.

Daron Acemoglu, người đoạt giải Nobel khác, chia sẻ quan điểm thận trọng về những lợi ích khiêm tốn: "Tôi không nghĩ chúng ta nên coi thường 0,5% trong 10 năm. Điều đó tốt hơn là không có gì. Nhưng nó chỉ đáng thất vọng so với những lời hứa mà mọi người trong ngành và trong báo chí công nghệ đang đưa ra."

Read Entire Article