More forecasts: 30 day weather forecast Orlando

700 năm thiền phái của người Việt

3 hours ago 1
Quảng Cáo

0943778078

Quảng NinhĐược thái thượng hoàng Trần Nhân Tông sáng lập, Thiền phái Trúc Lâm từng phát triển cực thịnh vào triều Trần, song có nhiều thế kỷ bị quên lãng.

Nhân dịp Lễ hội xuân Yên Tử 2026, tỉnh Quảng Ninh tổ chức triển lãm hệ thống cổ vật và tư liệu về Thiền phái Trúc Lâm - dòng thiền thuần Việt do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập đã trải qua hơn 700 năm hình thành và phát triển.

Triết lý thiền không phải trốn tránh thực tại

Theo tư liệu tại triển lãm, trước khi Thiền phái Trúc Lâm ra đời, Đại Việt tồn tại ba dòng thiền chính là Tỳ Ni Đa Lưu Chi (từ Ấn Độ), Vô Ngôn Thông và Thảo Đường (từ Trung Hoa). Dù đã được các thiền sư đương đại và tông thất nhà Trần nghiên cứu, thực hành để có sự giao thoa nhất định, các dòng thiền này vẫn rời rạc, chưa thực sự phản ánh hết tâm thức của người Việt.

Khi thái thượng hoàng Trần Nhân Tông rời cung điện lên núi Yên Tử tu hành năm 1299, ông đã chắt lọc tinh hoa từ ba dòng thiền cũ để thống nhất thành Thiền phái Trúc Lâm. Ông lập ra một Giáo hội thống nhất, có hệ thống đào tạo tăng tài, quy củ rõ ràng cùng triết lý mới.

Nội dung cốt lõi của Thiền phái Trúc Lâm nằm ở hai chữ "Nhập thế". Với Trần Nhân Tông, thiền không phải là sự trốn tránh thực tại, không phải là rũ bỏ trách nhiệm với gia đình và đất nước để tìm kiếm sự giải thoát cá nhân. Trong bài phú nổi tiếng Cư trần lạc đạo (Ở đời vui đạo), ông viết: "Cư trần lạc đạo thả tùy duyên/ Cơ tắc xôn hề khốn tắc miên/ Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch/ Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền". (Sống đời vui đạo hãy tùy duyên/ Đói cứ ăn đi, mệt ngủ liền/ Trong nhà có báu thôi tìm kiếm/ Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền).

 Giang Huy

Tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông trên núi Yên Tử. Ảnh: Giang Huy

Triết lý này khẳng định bụt ở trong nhà, Phật tính nằm ngay trong tâm mỗi người. Một người có thể tu hành ngay giữa đời thường thông qua việc thực hành đạo đức, lòng từ bi và trách nhiệm xã hội. Sau này, thiền sư Thích Nhất Hạnh trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận đã đánh giá: "Đạo Phật đời Trần trở thành yếu tố tâm lý liên kết toàn dân lại trong mục đích xây dựng và bảo vệ quốc gia". Tư tưởng này đã tạo nên một thế hệ quân dân nhà Trần vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, tạo nên sức mạnh vô song bảo vệ bờ cõi.

Hành trình thăng trầm

Sau khi ra đời, Thiền phái Trúc Lâm được duy trì bền vững bởi tam tổ. Đó là Sơ tổ Trần Nhân Tông (Phật hoàng), Đệ nhị Tổ Pháp Loa và Đệ tam Tổ Huyền Quang. Sự kết hợp giữa tư tưởng lãnh đạo (Trần Nhân Tông), khả năng tổ chức (Pháp Loa) và tâm hồn văn chương (Huyền Quang) đã đưa Thiền phái Trúc Lâm đạt đến đỉnh cao, trở thành Quốc đạo của Đại Việt.

Hồ sơ đề cử UNESCO quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn Kiếp Bạc nêu rõ Thiền phái Trúc Lâm không chỉ là một tôn giáo mà đã hình thành nên hệ thống giá trị văn hóa vô cùng đặc sắc. Hệ thống này bao gồm các chùa, thiền viện, am, tháp, pho tượng và di vật trải dài từ Yên Tử đến các vùng lân cận; hệ thống tư tưởng, giáo lý, phương pháp tu tập và lễ hội, diễn xướng liên quan.

Sau thời đại hoàng kim của nhà Trần (1226-1400), dòng thiền này bước vào giai đoạn thử thách. Thời kỳ thuộc Minh đến triều Nguyễn, Thiền phái Trúc Lâm mất dần vị thế ở triều đình, chỉ còn sự truyền thừa trong dân gian và nhiều thế kỷ sau đó gần như bị quên lãng, mất dần dấu tích.

Từ những năm 1970, Thiền phái Trúc Lâm trở lại nhờ công của hòa thượng Thích Thanh Từ. Trong bối cảnh đất nước chiến tranh, Phật giáo gặp nhiều khó khăn, nhưng ông vẫn ra sức phục hưng thiền học, tư tưởng của Thiền phái Trúc Lâm và tinh thần chư Tổ Trúc Lâm thời Trần, tư liệu tại Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (chùa Lân) có nêu.

Năm 1975, ông thành lập Thiền viện Chơn Không, thiền viện đầu tiên của dòng thiền Trúc Lâm tại Vũng Tàu. Đây chính là bước ngoặt quan trọng, đánh dấu sự trở lại chính thức của một dòng thiền thuần Việt.

Khôi phục vị thế

Hiện dòng thiền Trúc Lâm đã phát triển thành hệ thống thiền viện quy mô, không chỉ là nơi tu tập của tăng ni mà còn là trung tâm văn hóa, tâm linh thu hút đông đảo Phật tử và du khách. Nổi bật là Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt (Lâm Đồng), Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (Quảng Ninh), Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên (Vĩnh Phúc), Thiền viện Trúc Lâm Phụng Hoàng (Đồng Nai) và Trúc Lâm Bạch Mã (TP Huế).

 Tùng Lâm

Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử ở Quảng Ninh. Ảnh: Tùng Lâm

Tại các thiền viện này, phương châm "Thiền - Giáo song hành" được áp dụng triệt để. Người tu tập không chỉ tọa thiền để tìm sự an lạc mà còn phải học tập kinh điển, trau dồi trí tuệ để hiểu rõ gốc rễ của đạo pháp.

Hệ thống di tích và giá trị văn hóa của Thiền phái Trúc Lâm đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của du lịch tâm linh tại Việt Nam. Hàng năm, quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn Kiếp Bạc thu hút hàng triệu lượt khách đến vãn cảnh, cầu an, tìm hiểu về lịch sử và tư tưởng của một vị vua hóa Phật.

Du lịch tâm linh tại các điểm di tích Trúc Lâm không chỉ mang lại giá trị kinh tế cho địa phương mà còn là con đường ngắn nhất để quảng bá hình ảnh văn hóa Việt Nam ra thế giới. Thông qua những tour tỉnh thức, du khách quốc tế có cơ hội hiểu hơn về bản sắc Việt, dân tộc yêu hòa bình, đề cao đạo đức và có chiều sâu tâm linh.

Theo ông Bùi Văn Khắng, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, Yên Tử trở thành điểm hội tụ linh thiêng, thu hút đông đảo nhân dân, phật tử và du khách thập phương hành hương lên non thiêng không chỉ để lễ Phật, cầu an mà còn để tìm về cội nguồn lịch sử, để lắng lại giữa nhịp sống hiện đại, nuôi dưỡng khát vọng hướng thiện và tri ân tiền nhân.

"Chính sự tiếp nối bền bỉ ấy đã làm nên sức sống trường tồn của Yên Tử - nơi giá trị tâm linh hòa quyện cùng tinh thần dân tộc Việt Nam", ông nói trong Lễ khai hội Xuân Yên Tử năm nay.

Lê Tân

Tài liệu tham khảo:
- GS.TS Lại Quốc Khánh: "Thiền phái Trúc Lâm ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề đặt ra", Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 1.
- Thiền sư Thích Nhất Hạnh: "Việt Nam Phật giáo sử luận".
- Hồ sơ đề cử UNESCO quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn Kiếp Bạc.

Read Entire Article