Quảng Cáo
0943778078
Thứ bảy, 15/8/2026, 11:00 (GMT+7)
Trẻ chậm tăng cân và chiều cao, thừa cân, béo phì, có nguy cơ thiếu vi chất, mắc bệnh mạn tính nên được đánh giá dinh dưỡng để theo dõi tăng trưởng.
Khám dinh dưỡng cho trẻ là quá trình đánh giá tăng trưởng, tình trạng dinh dưỡng, khẩu phần ăn, hành vi ăn uống, hoạt động thể lực, giấc ngủ, bệnh lý... Bác sĩ sẽ theo dõi cân nặng hoặc chiều cao, BMI theo tuổi và các chỉ số tăng trưởng phù hợp với lứa tuổi.
Bác sĩ Trần Trà Phương, khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, khuyến cáo những nhóm tuổi trẻ dưới đây nên khám dinh dưỡng.
Chậm tăng cân hoặc sụt cân
Trẻ không tăng cân kéo dài, sụt cân hoặc có sự thay đổi đáng kể trên đường tăng trưởng nên khám dinh dưỡng. Nguyên nhân có thể liên quan đến lượng ăn không đáp ứng nhu cầu, khó khăn trong ăn uống, lựa chọn thực phẩm hạn chế, bệnh lý tiêu hóa... Khám dinh dưỡng giúp đánh giá tốc độ tăng trưởng, khẩu phần ăn, hành vi ăn uống, hoạt động thể lực.
Xét nghiệm không phải lúc nào cũng cần thực hiện ngay, bác sĩ quyết định dựa trên bệnh sử, khám lâm sàng và diễn biến tăng trưởng của từng trẻ. Cha mẹ không nên tự ý thay đổi sữa, sử dụng thuốc bổ hoặc thực phẩm bổ sung khi chưa xác định nguyên nhân khiến trẻ tăng trưởng kém.
Bác sĩ Phương tư vấn dinh dưỡng cho phụ huynh và trẻ. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Chậm tăng chiều cao
Chiều cao chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố gồm di truyền, tình trạng dinh dưỡng, bệnh mạn tính, giấc ngủ, tuổi dậy thì và yếu tố nội tiết. Vì vậy, không nên chỉ đánh giá trẻ dựa trên chiều cao hiện tại mà cần xem tốc độ tăng trưởng, diễn biến chiều cao theo thời gian.
Nếu trẻ có tốc độ tăng chiều cao chậm, đường tăng trưởng thay đổi bất thường hoặc có dấu hiệu dậy thì sớm, dậy thì muộn hay các biểu hiện gợi ý bệnh lý nội tiết, bác sĩ có thể phối hợp đánh giá với chuyên khoa Nội tiết Nhi.
Biếng ăn kéo dài
Biếng ăn trong vài ngày khi mắc bệnh cấp tính, mọc răng hoặc thay đổi môi trường thường có thể tự cải thiện. Tuy nhiên, nếu trẻ ngậm thức ăn lâu, từ chối nhiều loại thực phẩm, sợ bữa ăn, nôn hoặc ho khi ăn, gặp khó khăn khi nhai nuốt... nên được đánh giá.
Khó khăn trong ăn uống ở trẻ có thể liên quan đến bệnh lý tiêu hóa, táo bón, trào ngược, vấn đề nhai nuốt, kỹ năng ăn uống, yếu tố tâm lý... Cha mẹ nên hạn chế ép ăn, dùng thức ăn như phần thưởng hoặc kéo dài bữa ăn quá lâu. Trẻ cũng không nên sử dụng thiết bị điện tử trong bữa ăn.
Thừa cân, béo phì
Trẻ tăng cân nhanh, có BMI cao theo tuổi và giới hoặc có các yếu tố nguy cơ như chế độ ăn nhiều thực phẩm giàu năng lượng, đồ uống có đường, ít vận động nên được đánh giá dinh dưỡng.
Thừa cân, béo phì ở trẻ liên quan đến nhiều vấn đề sức khỏe như rối loạn chuyển hóa, gan nhiễm mỡ, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, rối loạn đường huyết. Trẻ béo phì không nên bị ép nhịn ăn hoặc loại bỏ cực đoan một nhóm chất dinh dưỡng. Mục tiêu điều trị là điều chỉnh chất lượng và lượng khẩu phần, hoạt động thể lực, giấc ngủ.
Nguy cơ thiếu vi chất
Một số biểu hiện như mệt mỏi, xanh xao, giảm khả năng tập trung hoặc thay đổi khẩu phần có thể gợi ý cần đánh giá thiếu vi chất. Bác sĩ dựa trên chế độ ăn, bệnh sử, yếu tố nguy cơ, khám lâm sàng và xét nghiệm phù hợp khi có chỉ định. Cha mẹ không nên tự bổ sung đồng thời nhiều loại vitamin và khoáng chất kéo dài khi chưa biết trẻ có thực sự thiếu hay không.
Trẻ có bệnh nền hoặc chế độ ăn đặc biệt
Trẻ mắc bệnh mạn tính hoặc có tình trạng ảnh hưởng đến ăn uống, hấp thu, chuyển hóa hoặc nhu cầu dinh dưỡng cần được theo dõi dinh dưỡng sát.
Trẻ ăn chay hoặc thuần chay, dị ứng nhiều thực phẩm, không sử dụng sữa cũng nên được tư vấn để bảo đảm khẩu phần đáp ứng đủ năng lượng, dinh dưỡng.
Bác sĩ Phương lưu ý ngay cả khi trẻ chưa có biểu hiện bất thường, cha mẹ vẫn nên theo dõi tăng trưởng định kỳ tại các lần khám sức khỏe của bé.
Vân Anh
Độc giả đặt câu hỏi về dinh dưỡng tại đây để bác sĩ giải đáp







