MÔ HÌNH ĐỂ PHẢN ỨNG CHỨ KHÔNG PHẢI PHÒNG NGỪA
Sự lặp lại này không phải ngẫu nhiên. Nó là sản phẩm của một mô hình quản lý đã định hình từ lâu, nơi pháp luật được ban hành đầy đủ trên giấy nhưng không được vận hành đến tận điểm phát sinh rủi ro. Vấn đề không nằm ở chỗ chúng ta thiếu phản ứng. Vấn đề nằm ở chỗ toàn bộ mô hình quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) bữa ăn bán trú ở VN đang được thiết kế để phản ứng chứ không phải để phòng ngừa.

An toàn bữa ăn bán trú trong trường học là vấn đề gây bức xúc bao lâu nay nhưng chưa có những giải pháp triệt để
ẢNH: HÀ PHƯƠNG
Nhìn từ góc độ pháp lý, khung quy định hiện hành thoạt nhìn có vẻ chặt chẽ. Luật ATTP 2010 dành riêng các điều 28, 29, 30 quy định điều kiện bảo đảm an toàn đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống bao gồm bếp ăn tập thể, từ bố trí mặt bằng chống nhiễm chéo, dụng cụ chế biến đến nguyên liệu rõ nguồn gốc và lưu mẫu thức ăn. Điều 54 đặt ra nghĩa vụ truy xuất nguồn gốc khi cần. Bộ luật Hình sự năm 2015 tại điều 317 hình sự hóa hành vi cung cấp thực phẩm không bảo đảm quy chuẩn gây ngộ độc nghiêm trọng, với khung hình phạt cao nhất lên đến 20 năm tù.
Nghị định 15/2018/NĐ-CP cụ thể hóa điều kiện cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện. Chỉ thị 38/CT-TTg ngày 11.10.2024 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phòng ngừa ngộ độc thực phẩm. Mới đây, Bộ Y tế ban hành Công văn 2236/BYT-ATTP ngày 1.4.2026 yêu cầu siết chặt kiểm tra bếp ăn tập thể trường học.

Sau vụ việc 300 tấn thịt bệnh, phụ huynh Hà Nội đi kiểm tra thực phẩm tại đơn vị cung cấp bữa ăn bán trú của trường con mình
ẢNH: HÀ PHƯƠNG
CÁC KHOẢNG TRỐNG PHÁP LÝ
Như vậy, nhìn thì thấy rõ khung pháp lý đầy đủ, vậy khoảng trống nằm ở đâu?
Khoảng trống thứ nhất nằm trong chính cấu trúc của hệ thống. Việc cấp phép cho doanh nghiệp cung cấp suất ăn được thực hiện một lần trong khi rủi ro vi sinh phát sinh hằng ngày. Một cơ sở có thể đạt chuẩn vào ngày được cấp giấy chứng nhận nhưng quy trình bảo quản, vận chuyển, phân chia khẩu phần lại có thể xuống cấp chỉ sau vài tháng mà không ai biết. Hậu kiểm theo Nghị định 15/2018/NĐ-CP về nguyên tắc là công cụ để bù đắp cho khoảng trống này. Tuy nhiên, trên thực tế hậu kiểm thường mang tính định kỳ, có thông báo trước và tập trung vào hồ sơ giấy tờ hơn là quy trình thực tế. Kiểm tra một bếp ăn vào lúc nhân viên đã chuẩn bị sẵn tâm thế đón đoàn không cho phép phát hiện được những thói quen tệ hại diễn ra trong 364 ngày còn lại của năm.
Khoảng trống thứ hai mang tính thể chế. Quản lý ATTP trường học ở VN đang bị phân mảnh giữa nhiều đầu mối. Sở Y tế hoặc Sở ATTP chịu trách nhiệm về chuyên môn vệ sinh thực phẩm. Sở GD-ĐT quản lý hoạt động của nhà trường. Chính quyền địa phương cấp xã, phường có vai trò giám sát trên địa bàn. Hiệu trưởng nhà trường, theo khoản 7 điều 28 luật ATTP, là người đứng đầu đơn vị có bếp ăn tập thể nên phải chịu trách nhiệm chính. Và cuối cùng là doanh nghiệp cung cấp suất ăn, chủ thể trực tiếp sản xuất ra rủi ro.

Lớp học vắng vẻ tại Trường tiểu học Bình Quới Tây (P.Bình Quới, TP.HCM) hôm 10.4 sau khi có nhiều học sinh nghi bị ngộ độc thực phẩm
ẢNH: THÚY HẰNG
5 chủ thể, mỗi chủ thể giữ một mảnh trách nhiệm và khi sự cố xảy ra mảng trách nhiệm nào cũng có thể được giải thích là trách nhiệm của người khác. Đây là mô hình mà các nhà phân tích thể chế gọi là trách nhiệm khuếch tán, nơi không ai phải gánh vác cụ thể vì ai cũng có thể chỉ tay sang bên cạnh.
Khoảng trống thứ ba là sự thiếu vắng minh bạch chủ động. Phụ huynh đóng tiền ăn cho con mỗi tháng nhưng không có quyền tiếp cận thông tin về đơn vị cung cấp suất ăn theo cách hệ thống. Họ không biết doanh nghiệp đó đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính bao nhiêu lần? Kết quả các đợt hậu kiểm gần nhất ra sao? Có vướng vào sự cố tại trường nào khác hay không?
Trong khi đó, ở nhiều nước trên thế giới có hệ thống ATTP hiệu quả, kết quả thanh tra vệ sinh được công khai bắt buộc, thậm chí dán ngay tại cửa cơ sở dưới dạng xếp hạng để người tiêu dùng nhìn thấy. Nguyên tắc rất đơn giản. Khi thông tin về chất lượng được công khai thì doanh nghiệp tự có động lực kinh tế để cải thiện vì khách hàng có thể chọn hoặc không chọn họ. Khi thông tin bị che giấu, không có cơ chế thị trường nào hoạt động và mọi gánh nặng giám sát đổ dồn lên cơ quan nhà nước vốn đã quá tải.
Khoảng trống thứ tư và có lẽ là gốc rễ, nằm ở cách chúng ta định giá bữa ăn của trẻ em. Khi mức thu tiền ăn bán trú bị giới hạn ở mức rất thấp, các đơn vị cung cấp suất ăn buộc phải cắt giảm chi phí ở mọi khâu để có lợi nhuận. Nguyên liệu rẻ hơn nghĩa là rủi ro chất lượng cao hơn. Vận chuyển bằng phương tiện không bảo đảm nghĩa là rủi ro vi sinh tăng theo thời gian và nhiệt độ. Nhân công không được đào tạo bài bản nghĩa là quy trình vệ sinh dễ bị bỏ qua. Đây không phải là biện minh cho doanh nghiệp vi phạm mà là chỉ ra một thực tế rằng nếu thiết kế kinh tế của bữa ăn học đường khiến việc làm đúng trở nên không có lãi thì việc làm sai chỉ còn là vấn đề thời gian.
Vậy nên thay đổi như thế nào? Chúng ta cần dịch chuyển mô hình từ hậu kiểm sang phòng ngừa dựa trên rủi ro theo nguyên tắc HACCP (Hazard Analysis and Critical Control Points - hệ thống quản lý ATTP dựa trên việc phân tích mối nguy và kiểm soát các điểm tới hạn) đã được nhiều quốc gia áp dụng cho dịch vụ ăn uống tập thể.
Cốt lõi của HACCP không phải là kiểm tra sản phẩm cuối cùng mà là kiểm soát các điểm nguy cơ trong quy trình từ tiếp nhận nguyên liệu đến phân phối khẩu phần. Khi rủi ro được kiểm soát ngay tại điểm phát sinh thì sự cố sẽ giảm trước khi cần đến đoàn công tác liên ngành. Đi kèm với đó là yêu cầu công khai bắt buộc kết quả thanh tra dưới dạng xếp hạng dễ hiểu để phụ huynh có công cụ giám sát thực chất. Đi xa hơn nữa là việc xác lập trách nhiệm cá nhân của hiệu trưởng và lãnh đạo giáo dục địa phương khi sự cố xảy ra. Không chỉ trách nhiệm hành chính mà cả trách nhiệm hình sự nếu có dấu hiệu buông lỏng quản lý có hệ thống.
Bữa ăn của một đứa trẻ ở trường không phải chỉ là vấn đề vệ sinh thực phẩm. Đó là phép thử cho năng lực thể chế của một xã hội trong việc bảo vệ nhóm yếu thế nhất, những người không có quyền lựa chọn và không có tiếng nói. Khi phép thử này thất bại lặp đi lặp lại theo cùng một kịch bản, đã đến lúc thừa nhận vấn đề không nằm ở vài cá nhân vi phạm mà nằm ở chính mô hình quản lý đang được vận hành.
An toàn của học sinh trông chờ vào sự tự giác của các công ty?
Bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Nguyệt Cầu, Giám đốc Trạm Y tế P.Tân Định (TP.HCM), cho biết: "Những trường học phải hợp đồng với đơn vị cung cấp suất ăn thì hầu như không thể tự kiểm soát được an toàn bữa ăn bán trú mà trông chờ vào sự tự giác của công ty, và đây là lỗ hổng rất lớn".
Để khắc phục lỗ hổng này, bác sĩ Nguyệt Cầu cho biết ban giám hiệu nhà trường, phụ huynh phải có những buổi đột xuất đến công ty chế biến suất ăn để xem. "Mình có quyền giám sát bữa ăn, và nếu đi đột xuất, thì phải đi lúc họ nhập hàng, từ lúc 4 - 5 giờ sáng để xem thực phẩm họ nhập vào thế nào. Ngược lại, nếu không giám sát thì nguy cơ rất cao", bác sĩ Nguyệt Cầu nói.
Về mặt chuyên môn, bác sĩ Nguyệt Cầu khuyên các giáo viên, nhân viên trường học trước khi cho học sinh ăn thì phải xem thử đồ ăn, kiểm tra màu sắc xem có gì lạ không, ngửi xem có mùi lạ không, và phải nếm thử xem đồ ăn có vị ra sao, có gì bất thường không. Đó cũng là một hình thức giám sát tương đối hiệu quả.
"Khi mình giám sát chặt chẽ, họ (công ty cung cấp suất ăn) sẽ có trách nhiệm hơn, còn không giám sát thì rất khó. Nhiều bên phải tăng cường kiểm tra, giám sát, không thể nào giao khoán cho công ty cung cấp suất ăn được", bác sĩ Nguyễn Nguyệt Cầu nói.
Thúy Hằng
Những đề xuất của giáo viên về bữa ăn bán trú
Giáo viên (GV) một trường tiểu học tại TP.HCM, nơi học sinh (HS) dùng suất ăn từ công ty cung cấp suất ăn bán trú, cho rằng để khách quan, minh bạch bữa ăn học đường thì tất cả các trường phải cho phụ huynh, HS được đóng góp ý kiến về suất ăn theo tuần hoặc tháng. Tốt nhất nên cho góp ý chế độ ẩn danh.
Đặc biệt, GV này nêu ý kiến: "Trường học, công ty cung cấp suất ăn phải cho phép phụ huynh kiểm tra đột xuất bếp ăn và bữa ăn của HS. Trường học phải được đột xuất kiểm tra công ty cung cấp suất ăn, điều này cần phải được ghi rõ trong hợp đồng giữa 2 bên ngay từ đầu".
GV trên cũng cho biết các trường phải cam kết với phụ huynh từ đầu năm học một số nội dung trước khi tổ chức ăn bán trú. Đó là hình ảnh thật về thực đơn, khẩu phần ăn của HS cần chuyển cho phụ huynh giám sát theo từng ngày. Nhân viên phụ trách y tế của nhà trường cần kiểm tra thức ăn, nhìn, ngửi, nếm thử, để đảm bảo thức ăn an toàn, không có mùi hoặc chua, sau đó mới cho HS ăn. Trường học bắt buộc phải cập nhật các chứng nhận vệ sinh ATTP của đơn vị cung cấp suất ăn, nguồn gốc thực phẩm đưa vào bữa ăn để phụ huynh, GV cùng biết.
Thúy Hằng

1 hour ago
1







