Quảng Cáo
0943778078
Xét nghiệm máu, chụp CT, MRI, PET/CT, nội soi, là các phương pháp phổ biến hỗ trợ bác sĩ chẩn đoán ung thư tụy.
Tụy nằm phía sau dạ dày và vắt ngang qua trước cột sống, có chức năng tạo ra hormone insulin và glucagon (nội tiết) để kiểm soát đường huyết, dự trữ năng lượng. Đồng thời, cơ quan này tạo men tụy, hỗ trợ cơ thể tiêu hóa thức ăn trong ruột non.
Ung thư tụy có nguồn gốc từ tế bào nội tiết hoặc ngoại tiết của tuyến tụy. Bác sĩ Kim Thị Bé Diệp, khoa Ung bướu, Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết khoảng 90% trường hợp ung thư tụy xuất phát từ tế bào ngoại tiết, chủ yếu từ các tế bào biểu mô lót ống tụy. Hầu hết các ung thư tụy là ung thư biểu mô tuyến ống tụy.
Khi tiếp cận bệnh nhân nghi ngờ mắc ung thư tụy, ngoài hỏi bệnh sử, triệu chứng, kiểm tra tổng quát, bác sĩ có thể chỉ định một số kiểm tra cận lâm sàng để xác định nguyên nhân.
Xét nghiệm máu nhằm đánh giá chức năng gan thông qua đo nồng độ các chất do gan tổng hợp hoặc chuyển hóa (như enzyme gan, bilirubin...). Tình trạng tăng hoặc giảm bất thường của các chỉ số này có thể gợi ý tổn thương gan hoặc tình trạng tắc mật, ví dụ do khối u chèn ép đường mật.
Bác sĩ Diệp tư vấn các phương pháp chẩn đoán ung thư tụy cho người bệnh. Ảnh minh họa: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Chụp CT, MRI giúp bác sĩ quan sát rõ cấu trúc tuyến tụy, đường mật và các cơ quan lân cận. Các phương tiện này có vai trò quan trọng giúp phát hiện khối u, đánh giá kích thước, mức độ xâm lấn cũng như di căn của ung thư tụy.
Chụp PET/CT sử dụng các chất đánh dấu phóng xạ (thường là ^18F-FDG) được tiêm vào tĩnh mạch. Chất này sẽ tích tụ tại những mô có chuyển hóa glucose cao, hỗ trợ phát hiện các vùng nghi ngờ có tế bào ung thư. Tế bào ung thư thường có nhu cầu sử dụng glucose tăng cao nên chúng sẽ hấp thu nhiều chất đánh dấu và biểu hiện dưới dạng các vùng tăng hấp thu (tăng sáng) trên hình ảnh PET.
Tuy nhiên, theo bác sĩ Diệp, không phải tất cả vùng tăng hấp thu đều là ung thư, vì một số tình trạng lành tính như viêm hoặc nhiễm trùng cũng có thể gây tăng hấp thu tương tự.
Nội soi là sử dụng một ống mềm (endoscope) có gắn nguồn sáng và camera ở đầu, được đưa vào cơ thể để quan sát trực tiếp các cấu trúc bên trong và phát hiện tổn thương. Một số kỹ thuật liên quan đến nội soi bao gồm:
Siêu âm nội soi kết hợp nội soi và siêu âm để đánh giá chi tiết tụy và các cấu trúc lân cận, đồng thời có thể sinh thiết bằng kim nhỏ (FNA).
Nội soi mật tụy ngược dòng chủ yếu dùng trong can thiệp như đặt stent dẫn lưu mật khi có tắc mật, ngoài ra có thể hỗ trợ chẩn đoán trong một số trường hợp.
Nội soi ổ bụng là một phương pháp phẫu thuật xâm lấn tối thiểu, giúp đánh giá giai đoạn bệnh (đặc biệt là di căn phúc mạc) và có thể hỗ trợ điều trị.
Sinh thiết tức là lấy mẫu mô hoặc cụm tế bào, soi dưới kính phóng đại. Dựa trên quan sát hình dạng tế bào và kết quả nhuộm hóa mô miễn dịch, bác sĩ kết luận về loại tế bào của mẫu, xác định có ung thư không.
Tuy nhiên, không phải tất cả mẫu mô sinh thiết đều đủ tiêu chuẩn để có thể kết luận loại tế bào là lành hay ác. Đôi khi, người bệnh cần phải sinh thiết nhiều hơn một lần bằng phương pháp khác nhau hoặc từ các vị trí khác nhau (cơ quan di căn, hạch,...). Từ kết quả sinh thiết đó, bác sĩ khoa Nội Ung bướu sẽ tư vấn các hướng điều trị cho người bệnh.
Các phương thích sinh thiết gồm sinh thiết bằng kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm qua ngả nội soi; sinh thiết xuyên qua da dưới hướng dẫn của siêu âm hoặc cắt lớp vi tính (CT).
Xét nghiệm gene·có thể được thực hiện ở bệnh nhân ung thư tụy nhằm phát hiện các đột biến di truyền (germline) từ cha mẹ. Xét nghiệm thường sử dụng mẫu máu hoặc nước bọt. Người mang đột biến có thể truyền gene này lại cho con cái. Những người khác trong gia đình cũng có thể đang mang đột biến này.
Xét nghiệm dấu ấn sinh học bao gồm xét nghiệm gene và các sản phẩm của gene (protein). Xét nghiệm này thường được thực hiện ở bệnh nhân ung thư tụy giai đoạn tiến triển hoặc di căn nhằm phát hiện các đột biến hoặc đặc điểm phân tử có ý nghĩa trong lựa chọn điều trị. Kết quả giúp định hướng các liệu pháp nhắm trúng đích hoặc miễn dịch, không dùng để chẩn đoán xác định ung thư.
Nguyễn Trăm
Độc giả đặt câu hỏi về bệnh ung thư tại đây để bác sĩ giải đáp








