Chị Thương - Truyện ngắn của Vũ Ngọc Giao

4 hours ago 8
Quảng Cáo

0943778078

Ngày má về với dượng Chơn, tôi xúng xính trong chiếc đầm ren trắng, tóc cài nơ hình con bướm màu vàng. Tôi nhảy chân sáo bên ngoại trong giờ đưa dâu. Tục lệ làng tôi, mẹ không đưa con gái về nhà chồng, dĩ nhiên ngoại cũng bắt tôi ở nhà. Tôi lăn lộn khóc lóc, mình mẩy một hồi, má cũng nhượng bộ, cho tôi lên xe rước dâu ngồi chung. Tôi áp mặt vào cửa kính, hí hửng nhìn con đường đất gập ghềnh dần trôi tuột về phía sau.

Năm đó tôi sáu tuổi. Ba mất đã tròn năm năm.

Lần đầu tiên được ngồi xe ô tô, sung sướng không chi bằng, thỉnh thoảng tôi ngước nhìn má trong chiếc áo cưới cô dâu. Má đẹp lắm. Tôi vẫn nghe người làng bảo ngoại sinh được cô con gái đáng đồng tiền bát gạo, chỉ tiếc đường chồng con của má lận đận. Ba má cưới nhau, qua năm sau có tôi, nhưng cuộc hôn nhân gãy gánh giữa đường, ba mất trong một tai nạn đường sông.

Tôi ở lại hẳn với má. Căn nhà dượng Chơn từ ngày đó có thêm má con tôi. Trước má, dượng Chơn cũng có một đời vợ và một đứa con gái - chị Đẩu. Chị Đẩu hơn tôi bảy tuổi, vóc người gầy gò yếu ớt, gương mặt với cái nhìn xuống lúc nào cũng buồn rượi. Má chị mất vì bạo bệnh năm chị mới lên hai. Dượng Chơn thương con, hơn mười năm sau mới đi bước nữa.

Ngày đầu về nhà dượng, tôi nem nép bên má, nhìn quanh căn nhà gọn gàng nhưng có phần lạnh lẽo. Má tôi, người đàn bà lanh lợi đã quen với công việc buôn bán trên thị trấn. Má về, qua hôm sau, một tay má kê dọn các thứ trong nhà. Má thoăn thoắt vào ra, hết gọi dượng giúp một tay, lại sai chị Đẩu dọn dẹp các thứ. Có bàn tay má, căn nhà ấm cúng hẳn lên. Dượng Chơn hài lòng ra mặt, một mình ơi, hai mình ơi gọi má. Tôi được má xếp cho một căn phòng riêng, bên cạnh phòng chị Đẩu, từ chỗ này có ô cửa nhìn ra vườn.

Chị Thương - Truyện ngắn của Vũ Ngọc Giao- Ảnh 1.

Minh họa: Văn Nguyễn

Dượng Chơn làm cho một công ty sản xuất phân bón. Sáng ra dượng đã đi, đến tối mịt mới về. Từ ngày về với dượng, má sang thêm sạp hàng bên cạnh, nới rộng mặt hàng bán buôn nên bận tối ngày, ở nhà chỉ còn tôi và chị Đẩu. Mỗi ngày chị Đẩu được má giao nhiệm vụ đưa tôi đi học. Ngoài giờ học, chị tranh thủ nấu cơm, quét dọn, giặt giũ… Về phần dượng Chơn, chẳng mấy khi tôi thấy dượng hỏi han chị. Phải chăng, khi người ta quen im lặng, thì sự xa cách cũng thành thường nhật. Chị vốn lặng lẽ, ngày như càng rút dần vào xó nhà, câm lặng. Giữa má và chị có một khoảng cách vô hình, ánh mắt như chẳng bao giờ chạm nhau.

Từ nhỏ má đã nuông chiều tôi. Về với dượng má vẫn vậy, cưng chiều tôi ra mặt, nhất là khi có chị Đẩu ở đó, má ôm tôi hôn hít, nựng nịu, gọi tôi cục vàng cục cưng. Dượng Chơn cũng yêu chiều tôi vô điều kiện. Những lúc như thế, tôi nhìn thấy trong mắt chị Đẩu thoáng chút buồn tủi.

Mười tám tuổi, chị Đẩu vẫn gầy gò, lép kẹp, duy chỉ có đôi mắt đã lóng lánh, hút hồn người khác. Chị mang đôi mắt của mẹ chị, di ảnh trên bàn thờ tôi vẫn thấy một tháng hai lần chị hương khói. Về phần má, hễ ra chợ thì thôi, về tới nhà là khó chịu cắm cảu ra mặt, khi đối diện với chị Đẩu, dù chị vẫn hiền lành, câm lặng. Tôi được má và dượng cưng chiều, nhưng chị không vì thế mà ganh ghét, ngược lại, chị yêu chiều tôi như một đứa em ruột thịt. Có lần rửa chén, chị lỡ tay làm vỡ tan hai chiếc đĩa sứ. Má giãy lên chì chiết: "Trời ơi là trời! Có rửa cái chén cũng không nên hồn!". Tôi quắn quíu chạy lại cùng chị nhặt những mảnh vỡ, má lôi xềnh xệch tôi vào phòng. Tôi cự, liền bị má mắng té tát. Má đi rồi, chị Đẩu ôm tôi thủ thỉ: "Có má ở nhà, Trâm Anh đừng có bênh chị, bị má la mà tội, nghe chưa!".

An ủi tôi vậy, nhưng đêm đó chị lặng lẽ ra sông. Tôi nằm đợi đến khuya chưa thấy chị về. Tôi mở cửa ra hiên, định bụng đi tìm chị. Đột ngột chị xuất hiện, dưới ánh trăng nhàn nhạt, tôi nhìn thấy đôi mắt chị còn đẫm nước.

Trượt đại học, chị Đẩu xin làm công nhân cho xí nghiệp giày da gần nhà. Chị lặng lẽ đi đi về về như cái bóng. Ngày tôi vào đại học, chị không giấu được nỗi vui. Hành trang lên đường nhập học, một tay chị sắp xếp, từ chiếc áo ấm, đôi tất, chai dầu, đến những viên thuốc đau bụng vào kỳ kinh.

"Chị phải xa em những bốn năm trời!", chị Đẩu nghèn nghẹn, xếp thêm chiếc khăn choàng cổ vào va li chật cứng.

Tôi ôm chị, áp gương mặt vào mái tóc thơm thơm mùi mận chín, nghe buồn đến lạ.

Ngày tôi lên thành phố, chị chở tôi trên chiếc xe máy cũ. Con đường trưa vắng, chị em tôi ríu ran đủ thứ chuyện trên đời. Lúc xe đến đón, chị cong hai ngón tay hình nửa trái tim. Tôi cũng làm như chị. Đó là "mật hiệu" của chị em tôi, phải luôn nhớ về nhau.

* * *

Tôi ra trường, may mắn được vào một công ty đang ăn nên làm ra nhưng phải xa nhà. Cuốn vào guồng quay công việc, tôi chẳng còn nhiều thời gian dành cho gia đình, cho chị. Lần nào tôi về thăm, chị Đẩu cũng mừng quắn quíu. Chị chăm sóc tôi còn hơn cả má. Chị nấu canh khoai mỡ, cá rô chiên xù, đọt bí xào tỏi… toàn những món tôi thích. Chị kéo tôi ra hiên chấn lại đuôi tóc, vừa chấn chị vừa càm ràm, con gái con đứa lớn rồi mà chẳng biết chăm chút cho mình.

Có lần tôi hỏi: "Sao chị không ghét em?". Chị Đẩu cười hiền: "Mới đầu ghét lắm chứ, nhưng sau lại thương".

Làng tôi, con gái xấp xỉ ba mươi chưa chồng coi như ế. Má tôi hễ vui thì không sao, có chuyện gì bực dọc lại vào ra cạnh khóe "gái lỡ thì". Tôi nghe mắt mình cay cay, vùng vằng khi má nói vậy. Về phần chị Đẩu, vẫn hiền lành cam chịu. "Thì chị ế rồi chứ sao nữa!", chị dụi đầu vào lưng tôi, thở ra nhè nhẹ. Tôi đi làm xa, lần nào về, đêm đến cũng nhảy tót vào giường chị nằm, trùm chăn. Má gọi cách gì tôi cũng không dạ. Tôi quàng tay qua ôm tấm lưng gầy gầy của chị. Trong căn phòng cũ kỹ ẩm mốc, chị em tôi rủ rỉ đến khuya.

Ngày tôi tròn hai mươi tuổi, chị kéo tôi vào phòng, lấy ra một chiếc hộp thiếc nhỏ. "Của chị cho nè! Cất đi! Đợi sinh nhật năm sau mới được mở ra", chị âu yếm véo mũi tôi, những ngón tay sao lạnh ngắt.

Tôi trở lên thành phố, ba tháng sau nhận được tin chị nhắn, bảo tôi về với chị vài hôm. Tin nhắn chỉ vỏn vẹn một dòng, nhưng tôi linh cảm có điều chẳng lành. Không dễ gì chị Đẩu bảo tôi về khi biết tôi đang bộn bề công việc.

Tôi vội vàng bắt tàu về quê. Vừa đến đầu ngõ đã thấy chị đứng chờ. Gặp tôi, chị vui như đứa trẻ lên ba. Bữa cơm tối dọn ra, chị ăn chưa hết một chén đã đứng lên lảo đảo vào phòng. Má kể, dạo này chị thường thức khuya, hay khóc một mình, má và dượng hỏi gì chị cũng không nói. Chị ngày càng xanh xao, gầy rộc. Đêm đó tôi nằm bên chị, quàng tay qua ôm chị như thói quen trước giờ vẫn vậy. Người chị gầy nhom, những đường cong gần như mất hẳn. Tôi nằm nghe bức tường tỏa ra hơi lạnh từ những vết nứt, điều tôi linh cảm càng dày lên. Nửa đêm choàng tỉnh, tôi thấy chị cặm cụi ngồi đan chiếc áo len từ năm nảo năm nao. Chị bảo, đan chiếc áo cao cổ cho tôi mặc mùa đông.

Sáng sớm tôi thức giấc, dượng đã đi làm, má ra chợ, chỉ còn chị Đẩu ngồi thẫn thờ bên ngạch cửa. Tôi lại gần lấy lược chải tóc cho chị, thói quen tôi thích từ ngày còn nhỏ, vừa chải tôi vừa gỡ những sợi tóc rối. Chị ngồi co ro trong chiếc áo chần bông, thỉnh thoảng quay lại nhìn tôi, ánh mắt bỗng dại đi trên làn da xanh tái.

"Đừng chải nữa em! Tóc chị có còn mấy đâu!", chị khẽ kêu lên: "Không hiểu sao nó rụng đi nhiều quá!".

Tôi yên lặng đưa chiếc lược đều đều trên mớ tóc mỏng tanh, xơ xác, nghe lòng nhói lên nỗi đau mơ hồ. Nhớ ngày nào tóc chị còn bóng mượt, chảy tràn qua tay tôi như một dòng sông đêm huyền hoặc. Mỗi khi tôi lại gần đòi thắt bím, chị chỉ cười, xổ mái tóc dài qua eo cho tôi tha hồ bày vẽ đủ kiểu.

Có lần tôi thủ thỉ: "Sao dượng lại đặt chị tên Đẩu? Cái tên chẳng hợp với chị chút nào! Em thích gọi chị là chị… Thương hơn". Chị cười, cái cười hiền như nắng ngày trời dịu: "Thôi đi cô! Thương với nhớ mà làm gì! Cái tên là mẹ cha đặt cho mình".

Những sợi tóc rơi xuống đột ngột cắt ngang ý nghĩ của tôi, tôi vội vơ lấy, vo lại, giấu đi sợ chị nhìn thấy. Chợt chị quay lại nhìn tôi, đôi mắt trũng sâu gờn gợn xót xa, rồi chị quay đi, mơ màng dõi ra khúc sông vắng rợn. Từ bên kia sông, một bầy chim nhàn bay về, những đôi cánh trắng mong manh chấp chới giữa tầng mây. Đăm đắm nhìn đàn chim, chị bật thốt lên: "Những cánh chim kia… biết đâu được gặp mẹ…".

Nói đến đó chị bỗng nghiêng đầu cười, kiếm cớ đứng lên vào nhà, dặn tôi ngồi ngoài hiên trông chừng bầy gà nhà bên kéo qua bươi đám rau mới giâm.

Tôi ngồi ngoài hiên nhìn những giọt nắng rọi xuống vạt cải đã lên ngồng. Những bông cải vàng li ti như những ngôi sao khẽ lay. Nắng lên, tôi vào nhà. Trên chiếc giường đơn, chị nằm nghiêng, chìm sâu vào giấc ngủ, đôi vai gầy rút lại, mấy ngón tay xanh xao co cứng như cố chống chọi với một cơn đau vô hình đang âm thầm giày vò. Tôi đứng lặng, nửa muốn quay ra, nửa muốn đứng thật lâu. Tôi sợ, biết đâu, tôi chỉ cần quay đi, chị sẽ tan biến như khói sương. Đêm đó tôi bỗng mơ thấy chị Đẩu lấy chồng. Trong bộ váy cưới cô dâu, chị rạng rỡ đi bên một người con trai từng thề non hẹn biển…

Đêm cuối cùng ở nhà, má không cho, tôi vẫn nằng nặc đòi ngủ cùng chị Đẩu. Chị gượng cười, nhích vào trong, ra hiệu cho tôi nằm xuống. Tôi khe khẽ xoa tấm lưng gầy chỉ còn trơ mấy đốt xương sườn, vỗ về chị. Chị nằm yên, mắt mở to nhìn vào mảng tường loang lổ ấm mốc.

"Hát chị nghe đi!", chị thầm thì. "Chị muốn nghe bài gì?", tôi khẽ hỏi.

Yên lặng. Tôi tưởng chị đã ngủ. Lát sau, tiếng chị thì thào: "Em hát bài Năm canh chày nhé". Cổ tôi nghẹn ứ. Đó là bài hát ngày xưa má thường ru tôi ngủ. Từ ngày ba mất, má không còn ru nữa. Câu hát ấy lâu rồi, chỉ còn rơi rớt đâu đó trong ký ức. Quàng tay ôm chị, tôi khe khẽ hát: Gió mùa thu mẹ ru con ngủ… năm canh chày thức đủ vừa năm... Tôi ngừng một quãng, rồi tiếp: Hỡi chàng chàng ơi, hỡi người người ơi, em nhớ tới chàng… nghe giọng mình run run. Câu hát rơi ra đến đâu, nước mắt tôi trào ra đến đó. Tôi không biết mình đang hát cho chị hay cho chính mình? Cho đứa con gái chưa từng được ai ôm ru sau ngày mẹ mất? Hay cho đứa trẻ mồ côi cha?... Những nỗi niềm đeo đẳng khiến tôi quên bẵng không hỏi chị Đẩu gọi tôi về gấp là vì việc gì.

* * *

Một tuần sau khi tôi lên lại thành phố, má gọi. Tiếng thở dốc ở đầu dây bên kia: "Má đây…", giọng má lạc đi: "Con Đẩu…".

Tôi không nhớ mình đã trở về nhà bằng cách nào. Chỉ biết rằng, con đường từ bến xe về nhà hôm ấy dài vô tận. Trời chiều xám xịt, gió hun hút thổi dọc triền sông, bụi cát bay vào, mắt tôi đỏ hoe. Từ đầu ngõ, tôi đã thấy sân nhà mình đông nghịt người. Chị Đẩu nằm đó, thiêm thiếp ngủ giữa những vòng hoa trắng, trong chiếc áo dài màu lam nhạt. Gương mặt chị bình thản, không còn vẻ đau đớn của căn bệnh những ngày cuối đời. Hai bàn tay chị đan vào nhau, đặt lên bụng, gầy guộc mà dịu hiền. Tôi đứng lặng. Nước mắt chảy vào trong và thoát ra bằng một tiếng khóc khô, nghe như trái tim mình rỗng toác.

Sau tang lễ, tôi dọn lại căn phòng của chị. Chiếc giường đơn kê sát tường, tấm nệm lõm xuống như còn in hằn dáng chị nằm nghiêng. Tôi đưa tay khẽ chạm vào chỗ lõm. Ga giường lạnh buốt. Chiếc gối chị còn thơm mùi nắng, vỏ gối sạch bong được ủi phẳng phiu. Có vẻ như chị đã chuẩn bị cho một cuộc ra đi tươm tất. Trong ngăn kéo, tôi tìm thấy một chiếc lược còn vương những sợi tóc rối, được quấn thành từng búi nhỏ, những sợi tóc mỏng như tơ. Xơ xác. Tôi lặng đứng bên hiên nhìn chiếc ghế thấp chị thường ngồi cắt tóc cho tôi, đôi dép nhựa màu tím vẫn còn ở đó, nằm chỏng chơ như cố đợi ai về.

Tôi mở cửa sổ, bản lề rít lên một tiếng khô khốc. Gió lùa vào mang theo mùi bùn tanh nồng từ sông, và cả mùi đất lạnh từ mảnh vườn bỏ không, thiếu vắng bàn tay chị.

Ngày tròn hai mươi mốt tuổi, nhớ lời chị, tôi mở chiếc hộp thiếc. Bên trong là một xấp tiền được xếp ngay ngắn, phẳng phiu, một tấm ảnh của tôi ngày còn học cấp ba, và một lá thư. Nét chữ nghiêng nghiêng quen thuộc.

Trâm Anh của chị.

Khi em đọc những dòng chữ này, có lẽ chị đã đi xa rồi. Chị biết bệnh của mình nhưng không nói, sợ em buồn. Số tiền trong hộp chị dành dụm từ lâu. Không nhiều, nhưng đủ để mua vài thứ em thích. Chị chưa từng có gì giữ cho riêng mình. Từ nhỏ đến lớn, điều chị thiếu có lẽ là được ai đó yêu thương. Nhưng chị cũng không buồn nữa. Vì cuối cùng trên đời vẫn có một người gọi chị bằng cái tên đẹp nhất.

Thương.

Tôi gấp lá thư, úp mặt vào chiếc gối của chị. Mùi hương quen thuộc vẫn còn đó. Mùi nắng mới, mùi chanh sả gội đầu, mùi mận chín ngọt ngào…

Lần nào về quê tôi cũng vào căn phòng nhỏ ấy, mở cửa sổ nhìn ra vạt cải trổ ngồng. Một cánh chim nhàn đơn độc bay qua khúc sông vắng, giữa bầu trời trống trải đến vô cùng. Tôi chợt nhớ, ngày còn nhỏ cùng chị dạo ngoài triền sông, bên bụi cỏ lùng, một chú chim bị mắc vào tấm lưới ai đó giăng ra bẫy chim trời. Để tôi ngồi trên mô đất, chị chạy đi tìm khúc cây, trèo lên hất cho được tấm lưới. Chú chim bay vụt đi, đánh rơi một chiếc lông trắng trên bờ. Chiếc lông chim đó chị giữ rất lâu, thỉnh thoảng tôi lại thấy chị lấy ra ngắm nghía, thì thào: "Phải chi chị biết bay, chị sẽ gặp được mẹ". Bên di ảnh chị, dượng Chơn cắm chiếc lông chim ấy vào chiếc ly thủy tinh trong vắt.

Tôi thắp nén nhang, thì thào: "Chị ơi… em về rồi nè!". Cong hai ngón tay, tôi làm một nửa trái tim. Gió sớt qua hiên. Ngọn khói hương nghiêng nghiêng như có ai vừa đi qua khẽ chạm.

"Chị Thương!", tôi thầm gọi.

Ngoài cửa sổ, một trái mận chín đỏ vừa rơi. 

Read Entire Article