Warning: session_start(): open(/home/obslnetp/public_html/src/var/sessions/sess_c794b0fef19f8eef049e29d72715c5f1, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/obslnetp/public_html/src/bootstrap.php on line 59

Warning: session_start(): Failed to read session data: files (path: /home/obslnetp/public_html/src/var/sessions) in /home/obslnetp/public_html/src/bootstrap.php on line 59
Chuyện gia đình có anh em ở 2 đầu chiến tuyến và ngày đoàn tụ sau hơn 20 năm xa cách - Tin Tức Cập Nhật Nhanh

Chuyện gia đình có anh em ở 2 đầu chiến tuyến và ngày đoàn tụ sau hơn 20 năm xa cách

1 day ago 5
Quảng Cáo

0943778078

Thứ Năm, ngày 30/04/2026 13:00 PM (GMT+7)

Hơn 20 năm đất nước chia cắt bởi chiến tranh, họ đứng ở hai chiến tuyến khác nhau nhưng cùng giữ một niềm tin đoàn tụ. Ngày đất nước thống nhất, những cái ôm nghẹn ngào đã xóa nhòa mọi ranh giới, chỉ còn lại tình thân và ký ức không thể quên.

Người lính hải quân và những cái ôm sau 20 năm

Một buổi chiều lặng gió ở Thủ Đức (TP.HCM), ông Lữ Công Bảy ngồi trầm ngâm trước hiên nhà, nét mặt thoáng xúc động khi ông bắt đầu câu chuyện với chúng tôi về một miền ký ức đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những câu chuyện của ông không ồn ào, không kịch tính, nhưng lại chạm đến tận cùng cảm xúc - nơi chiến tranh từng chia cắt gia đình ông thành hai nửa đối lập.

Ông Lê Hoàng Văn bình yên chăm sóc vườn cây tại nhà. Ảnh:  H.V

"Ngày 13/8 âm lịch năm ấy, đúng ngày giỗ mẹ, cả gia đình ông Lữ Công Bảy lần đầu tiên quây quần đông đủ sau hơn 20 năm chia cắt. Trước bàn thờ, họ thắp nén nhang, như một lời báo với người đã khuất rằng ước nguyện đoàn tụ đã thành hiện thực. “Đó là ngày của đoàn tụ, ngày của thương yêu” - ông Bảy nói.

Sinh năm 1947 trong một gia đình có 8 anh em ở Giồng Trôm, Bến Tre, tuổi thơ của ông Bảy gắn liền với những ngày tháng gian khó nhưng ấm áp tình thân. Cha ông là một thầy giáo, từng tham gia giành chính quyền năm 1945. Hai người anh lớn theo cách mạng từ những năm kháng chiến chống Pháp. Trong khi đó, ông Bảy cùng một số em trai lại khoác lên mình màu áo của quân đội Việt Nam Cộng hoà khi lớn lên giữa những biến động dữ dội của thời cuộc. Chiến tranh không chỉ chia cắt đất nước, mà còn chia cắt cả một gia đình. “Anh em chúng tôi ở hai đầu chiến tuyến, nhưng chưa bao giờ nghĩ mình là kẻ thù của nhau” - ông Bảy nói, giọng chậm rãi.

Đến năm 1965, ông Bảy nhập ngũ và trở thành giám lộ trên một tàu khu trục. Công việc của ông gắn với những con tàu lênh đênh giữa biển, với máy móc, thiết bị và những ca trực dài trong tiếng sóng. Nhưng phía sau những chuyến hải hành ấy, luôn là một nỗi nhớ âm ỉ về gia đình, về những người anh đang ở “phía bên kia”. Những lá thư từ chiến khu gửi về không mang theo lời trách móc. Trái lại, đó là những lời dặn dò đầy yêu thương. Các anh của ông Bảy nhắn nhủ: “Nếu phải đi lính, hãy cố làm công việc kỹ thuật, đừng cầm súng chĩa vào đồng bào”. Lời dặn ấy theo ông suốt những năm tháng trong quân ngũ, như một sợi dây vô hình níu giữ ông giữa những lựa chọn nghiệt ngã.

Những ngày cuối tháng 4/1975, Sài Gòn chìm trong hỗn loạn. Trên chiến hạm mà ông Bảy làm việc, cấp trên thông báo sẽ di tản ra nước ngoài. Ai muốn đi thì đi, ai muốn ở lại thì tùy. Là người phụ trách kỹ thuật, ông Bảy ở lại đến những giờ cuối cùng để chuẩn bị cho con tàu rời bến.

Nhưng khi thời khắc quyết định đến gần, ông quyết định chọn ở lại đất nước. “Lúc đó, tôi chỉ nghĩ đến gia đình. Tôi còn cha, còn anh em… Tôi không thể rời đi” - ông nhớ lại. Quyết định ấy không dễ dàng, bởi phía trước là vô vàn bất định. Nhưng sâu thẳm trong ông là một niềm tin - niềm tin rằng ngày đoàn tụ rồi sẽ đến, như mong ước của người mẹ đã khuất. Và ngày ấy đã đến…

 H.V

Ông Lữ Công Bảy bên cạnh mô hình tàu hải chiến mà ông từng làm giám hộ trên tàu. Ảnh: H.V

Ngay sau ngày 30/4/1975, ông Bảy rời Sài Gòn xuống Long Xuyên để tìm người anh đang công tác trong chính quyền cách mạng. Cuộc gặp diễn ra giản dị, không có cờ hoa, không có nghi thức. Chỉ có những cái ôm siết chặt, những giọt nước mắt lặng lẽ rơi. “Chúng tôi ôm nhau, không ai nói được gì. Miệng cười mà nước mắt cứ chảy” - ông kể.

Điều khiến ông nhớ mãi là trong cuộc trò chuyện đầu tiên sau hơn 20 năm xa cách, không ai nhắc đến chiến tranh. Họ nói về những ngày thơ ấu, về những lần tắm sông, bắt cá… như thể muốn níu lại một phần ký ức bình yên đã mất. Vài tháng sau, người anh cả cũng vào Sài Gòn. Cuộc đoàn tụ khi ấy trọn vẹn hơn, nhưng vẫn mang theo những lặng im khó tả. Không trách móc, không oán giận, chỉ có sự nhẹ nhõm khi biết tất cả vẫn còn sống.

Ngày 13/8 âm lịch năm ấy, đúng ngày giỗ mẹ, cả gia đình lần đầu tiên quây quần đông đủ sau hơn 20 năm chia cắt. Trước bàn thờ, họ thắp nén nhang, như một lời báo với người đã khuất rằng ước nguyện đoàn tụ đã thành hiện thực. “Đó là ngày của đoàn tụ, ngày của thương yêu” - ông Bảy nói.

Cuộc trùng phùng vội vã với cha

Nếu câu chuyện của ông Lữ Công Bảy là hành trình đi tìm anh em, thì với ông Lê Hoàng Văn, đó là hành trình tìm lại người cha sau hơn hai thập kỷ xa cách - trong một thời khắc đặc biệt nhất của lịch sử.

Ông Lê Hoàng Văn sinh năm 1946 tại Sài Gòn. Ký ức về cha của ông Văn bắt đầu từ một lần gặp gỡ ngắn ngủi năm 1954, trước khi cha ông - một cán bộ cách mạng - tập kết ra Bắc. Khi ấy, ông mới tám tuổi. “Tôi chỉ kịp biết mặt cha rồi lại xa” - ông nhớ lại. Từ đó, cha ông công tác tại nhà máy đóng tàu Hải Phòng, tham gia sửa chữa những con tàu không số. Còn cậu bé Văn ở lại Sài Gòn với mẹ, lớn lên trong cảnh thiếu thốn, phải đi làm thuê để mưu sinh. Năm 18 tuổi, ông bị gọi nhập ngũ và trở thành lính hải quân. Sự trớ trêu của chiến tranh hiện rõ khi cha ông ở phía Bắc, còn ông lại phục vụ trong lực lượng chuyên truy tìm tàu không số.

“Cha sửa tàu không số, còn tôi thì đi ngăn chặn…” - ông Văn nói, giọng đầy suy tư.

Dù vậy, nhờ những lá thư bí mật, cha ông vẫn kịp dặn dò con trai tránh cầm súng ra chiến trường. Ông đã tìm cách để được làm công việc lái xe, tránh xa những trận đánh. Cuối tháng 4/1975, khi Sài Gòn bước vào những giờ phút cuối cùng, ông đứng trước một lựa chọn: Di tản hay ở lại? Lệnh gọi lên tàu đã được gửi đến, nhưng ông từ chối. Bởi lúc ấy, vợ ông đang chuẩn bị sinh con.

Đêm 29/4, giữa thành phố hỗn loạn, ông chở vợ vào bệnh viện trong ánh đèn leo lét, vừa đi vừa hô “vợ sanh, vợ sanh…” để tránh những tình huống nguy hiểm. Đó là một hành trình ngắn, nhưng đầy căng thẳng. Sáng 30/4, ông trở về nhà, lòng nóng như lửa đốt. Tiếng súng vẫn vang lên khắp nơi khiến nỗi lo càng chồng chất. Đến khi mọi thứ lắng xuống, ông vội vã quay lại bệnh viện. Con trai ông đã chào đời vào đúng 11 giờ trưa 30/4/1975. Khoảnh khắc ấy, với ông, không chỉ là niềm vui làm cha, mà còn là dấu mốc của một thời đại mới. Hai ngày sau, khi vợ con đã ổn định, ông bắt đầu hành trình đi tìm cha mình. Dựa vào những thông tin ít ỏi, ông tìm đến nơi tập kết của lực lượng tiếp quản.

Cuộc gặp diễn ra nhanh chóng, gần như chớp nhoáng. “Cha tôi chạy xuống ôm tôi, hỏi vài câu rồi lại phải đi ngay” - ông kể. Không có thời gian cho những câu chuyện dài. Người cha phải tiếp tục nhiệm vụ, còn người con chỉ kịp đứng nhìn theo. Ông và anh rể chạy xe theo cha đến Nhà máy nước Gia Định, nơi ông đang tham gia lực lượng tiếp quản. Nhưng rồi 2 anh em cũng phải rời đi, bởi công việc của cha quá bận rộn. “Cha con xa nhau hơn 20 năm, gặp lại chỉ trong giây lát…” - ông nói, ánh mắt trầm xuống.

Hai ngày sau, người cha mới có thể trở về nhà. Cuộc đoàn tụ khi ấy mới thực sự trọn vẹn. Và điều khiến ông xúc động nhất là khi cha ông biết tin cháu nội sinh đúng ngày giải phóng miền Nam. Ông đã đặt tên cho đứa trẻ là Lê Thanh Bình - như một lời gửi gắm về một tương lai hoà bình.

 3 cha con nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh, 2 người là tướng kiệt xuất về ghép tạng

Có lẽ trong lịch sử, cho đến nay, duy nhất có một gia đình gồm ba cha con được vinh dự trao Giải thưởng Hồ Chí Minh. Đó là gia đình Thiếu tướng,...

Theo Hồ Văn ([Tên nguồn])

Nguồn: [Link nguồn]

-30/04/2026 06:30 AM (GMT+7)

Thời sự Xem thêm
Read Entire Article