Cửa đại học hẹp đến đâu

2 hours ago 7
Quảng Cáo

0943778078

Trong các buổi tư vấn hướng nghiệp, tuyển sinh, tôi gặp những kiểu câu hỏi rất khác nhau.

Ở thành phố, học sinh hỏi nên dùng chứng chỉ IELTS để xét vào ngành nào; hoặc nếu đồng thời có điểm học bạ, điểm đánh giá năng lực và điểm thi tốt nghiệp thì nên đặt nguyện vọng ra sao để tối ưu lợi thế. Các em có sẵn nhiều "bảo bối" và được thầy cô, tư vấn viên hỗ trợ kỹ càng.

Nhưng ở nhiều nơi xa trung tâm, câu chuyện lại khác. Có em hỏi điểm thi không cao nhưng ba năm phổ thông vẫn học ổn, thì có cơ hội nào không. Có em chưa biết nộp hồ sơ đại học như thế nào. Cũng có những em chỉ hỏi về học phí, tiền trọ, tiền ăn và chuyện đi làm thêm.

Những câu hỏi ấy nhắc ta rằng mỗi người trẻ bước đến cổng đại học với một hành trang rất khác nhau. Người mang theo chiến lược, thông tin và sự hậu thuẫn của gia đình. Người chỉ mang theo mong muốn: học tiếp để đổi khác cuộc đời mình.

Vì vậy, quy định ngưỡng đầu vào đại học tối thiểu 15 điểm có thể là mức vừa phải cho phần lớn học sinh. Với một số em khác, đó lại là khoảng cách được cộng dồn với nhiều thiếu hụt trước đó, từ điều kiện học tập, cơ sở vật chất tại trường phổ thông, khả năng tiếp cận thông tin đến áp lực sinh kế.

Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 là một ví dụ cho thấy sự phân hóa giáo dục giữa các vùng miền. Điểm trung bình chung toàn quốc là 6,172. Vĩnh Phúc dẫn đầu với 6,8 điểm trong khi Hà Giang đứng cuối với 5,2 điểm. Chênh lệch 1,5 điểm trung bình tưởng nhỏ nhưng khi tạo thành các tổ hợp ba môn, khoảng cách có thể lên tới gần 5 điểm tuyển sinh.

Một điểm chặn chung bao giờ cũng đem lại cảm giác yên tâm cho quản lý: rõ ràng, dễ kiểm tra, dễ giải thích với xã hội. Trong một hệ thống mà phương thức tuyển sinh ngày càng đa dạng, cơ quan quản lý có lý do để lo ngại tình trạng hạ chuẩn đầu vào. Nếu một trường tuyển quá dễ, đào tạo không tới nơi, người học chịu thiệt trước tiên. Xã hội sau đó cũng phải gánh chi phí của những tấm bằng yếu.

Nhìn từ phía Nhà nước, đặt một ngưỡng tối thiểu là cách phản ứng dễ hiểu; giống như dựng một thanh chắn để nói rằng đại học, dù mở rộng đến đâu, vẫn cần một mức sàn về năng lực học tập phổ thông.

Nhưng chính sách công khó ở chỗ đó. Mục tiêu đúng chưa chắc đi cùng công cụ phù hợp nhất. Điểm thi tốt nghiệp THPT là một dữ liệu quan trọng. Nó cho biết phần nào mức độ hoàn thành chương trình phổ thông của học sinh trên mặt bằng chung. Dù vậy, đại học không phải một khối đồng nhất. Các ngành nghiên cứu, kỹ thuật ứng dụng, nghệ thuật, dịch vụ hay đào tạo nghề nghiệp bậc đại học không nhất thiết cần cùng một kiểu năng lực đầu vào.

Có những em không nổi bật trong kỳ thi bốn môn, nhưng có quá trình học tập bền bỉ, kỹ năng thực hành, động cơ học rõ ràng và phù hợp với một chương trình ứng dụng. Ngược lại, vượt qua một ngưỡng điểm cũng chưa bảo đảm người học sẽ có năng lực nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp.

Tốt nghiệp phổ thông và trúng tuyển đại học là hai câu chuyện gần nhau, nhưng không nên nhập làm một. Tốt nghiệp phổ thông xác nhận một người học đã hoàn thành một chặng đường học tập cơ bản. Tuyển sinh đại học là câu hỏi về sự phù hợp giữa người học với một chương trình đào tạo cụ thể. Khi dùng một con số chung để mở hoặc đóng cánh cửa ấy, ta tiết kiệm được công sức quản lý, nhưng cũng có thể làm nghèo đi cách nhìn về năng lực con người.

Ở nhiều hệ thống giáo dục khác, Nhà nước không nhất thiết đặt một điểm sàn chung cho toàn bộ đại học. Họ tập trung vào việc buộc các trường công khai tiêu chí, chuẩn đầu vào, đầu ra, tỷ lệ duy trì học tập, kết quả việc làm... Những ngành có rủi ro xã hội cao như y khoa, giáo dục, luật hoặc liên quan trực tiếp đến an toàn công cộng thường được kiểm soát chặt hơn. Còn với hầu hết chương trình khác, trường đại học được quyền tuyển theo cách phù hợp, nhưng phải chịu trách nhiệm bằng dữ liệu và kết quả.

Đó có lẽ là điểm cần suy nghĩ kỹ hơn. Vấn đề của tự chủ đại học không nằm ở việc trao quyền tuyển sinh. Vấn đề nằm ở chỗ quyền ấy có đi cùng trách nhiệm giải trình đủ mạnh hay không. Nếu tuyển sinh bằng học bạ, phỏng vấn, hồ sơ năng lực hay kỳ thi riêng, trường phải công khai vì sao tiêu chí ấy hợp lý. Nếu tuyển vào nhiều nhưng sinh viên bỏ học nhiều, tốt nghiệp yếu, việc làm kém, xã hội phải được nhìn thấy dữ liệu đó.

Khi hậu kiểm còn mỏng, Nhà nước quay lại tiền kiểm. Điều này dễ hiểu. Nhưng nếu cứ xử lý điểm yếu của hậu kiểm bằng cách dựng thêm rào ở đầu vào, hệ thống sẽ chậm trưởng thành. Nhóm học sinh yếu thế, vốn đã ít cơ hội chuẩn bị, lại phải vượt thêm một cánh cửa được thiết kế như nhau cho tất cả.

Đại học không nên mở toang cửa bằng mọi giá. Một xã hội tôn trọng tri thức không thể xem nhẹ chuẩn mực. Nhưng chuẩn mực không thể phó thác hết cho đầu vào. Chất lượng đại học còn nằm ở việc trường dạy gì, dạy ra sao, hỗ trợ người học thế nào, giữ được bao nhiêu sinh viên đến cuối khóa, người tốt nghiệp có làm được việc không, và xã hội đánh giá họ ra sao. Nâng cao chuẩn đầu ra sẽ là điều ý nghĩa hơn với thị trường lao động.

Điều xã hội cần cuối cùng không phải là đầu vào đẹp, mà là những người tốt nghiệp đủ năng lực để làm việc và sống bằng nghề.

Nguyễn Thành Hưng

Read Entire Article