"Tới đây xứ sở lạ lùng
Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê"
Ngoại tôi hay kể chuyện ngày xưa, rằng cha ông ta đi mở bờ lập ấp, đến vùng đất phía Nam rừng thiêng nước độc, khắp nơi hoang sơ, trăm bề sợ sệt. Lúc ấy cha ông ta, tay bắt tay, vai kề vai, nương tựa vào nhau để ổn định tâm lý, có thêm sức mạnh khai phá, tạo dựng đời sống. Nhờ tinh thần góp sức chung lòng này, từng bước chân cha ông đã tiến xa trong công cuộc khai phá, lập ấp, lập làng. Đó cũng chính là hạt giống đầu tiên của lối sống nghĩa tình của người miền Nam nói chung và thành phố Sài Gòn nói riêng.
Vùng đất Sài Gòn - Gia Định, nếu tính từ cuộc "hôn nhân mở cõi của" Công nương Ngọc Vạn với nhà vua Chân Lạp vào năm 1620 đến nay đã hơn 400 năm. Tuy nhiên, vai trò của Sài Gòn chỉ thực sự nổi bật khi người Việt bắt đầu Nam tiến vào vùng đất này vào thế kỷ XVII.
Trong sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn đã viết người Gia Định có "tục chuộng khí tiết, khinh tài trọng nghĩa"[1]. Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có nhận xét: "Gia Định có vị trí Nam phương dương minh, nên người khí tiết trung dũng, trọng nghĩa khinh tài rất nhiều"[2].
Năm 1921, Finlayson đến thăm Sài Gòn và đã viết rằng: "Chúng tôi để nhiều thời giờ đi thăm nhiều khu vực của thành phố. Đến chiều, chúng tôi trở về quán trọ, rất bằng lòng với những gì chúng tôi đã trông thấy. Chúng tôi cảm giác tốt đẹp về phong tục và cử chỉ của người dân. Sự ân cần, tính rộng lượng, lòng hiếu khách mà chúng tôi đã gặp, vượt quá xa tất cả những gì từ trước đến nay mà chúng tôi đã thấy ở các nước châu Á"[3].
Năm 1937, nhà văn Hồ Biểu Chánh đã ghi lại cảnh chợ đêm ở Sài Gòn: "Tại các cửa lớn, người ta tụ lại chật ních, trai chải đầu láng mướt, gái thoa môi đỏ lòm, già ngậm thuốc điếu phì phà khói bay tưng bừng, mẹ dắt tay bầy con, đứa chạy trước nghinh ngang, đứa theo sau núc ních, kêu nhau inh ỏi, tốp chen lấn mua giầy, tốp ùn ùn vô cửa, người mặc y phục đàng hoàng, chung lộn với kẻ bình dân lao động không ai ngại chi hết, mà coi ra thì trên gương mặt mỗi người đều có vẻ hân hoan hớn hở..."[4].
Người Sài Gòn sớm hình thành cốt cách nhiều nghĩa khí, dám đứng ra vì người, vì nghĩa, vì tình nên người với người đối đãi với nhau hết lòng, hết dạ, anh em sống chết có nhau, ra đường thấy chuyện bất bình, liền đưa tay tương trợ.
Từ buổi đầu phát triển, Sài Gòn đã là vùng đất hứa cho định cư và sản xuất nên tiến trình nhập cư diễn ra liên tục. Người Việt là nhóm lưu dân đầu tiên đến Sài Gòn, sau đó là là người Hoa, người chăm. Luồng di cư này chủ yếu là người dân nghèo lưu lạc, thiếu công cụ sản xuất, thiếu nhân lực và kinh nghiệm. Loại hình sản xuất đầu tiên là canh tác lúa nước, chỉ bằng thủ công và sức người, về sau mới có những thành phần như địa chủ, chủ đất.

Diện mạo TPHCM ngày nay
Thuở đầu mở đất này đầy rẫy khó khăn, thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai hoang sơ, nhiều nguy hiểm như "Chèo ghe sợ sấu cắn chưn, Xuống sông sợ đỉa, lên rừng sợ ma", "Tới đây xứ sở lạ lùng; Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê". Chính vì thế họ phải liên kết lại với nhau để cùng sinh tồn, trồng trọt, làm ăn. Ban đầu chỉ là "hợp tác" để khai phá, canh cư, dần dần cộng đồng hình thành với quan hệ gắn bó chặt chẽ, quan tâm nhau, cùng nhau "tối lửa tắt đèn".
Người dân Sài Gòn - Gia Định không những nương dựa vào nhau để cùng chinh phục tự nhiên mà họ còn cùng nhau chiến đấu để giữ đất vẹn nguyên và giữ đời độc lập. Những thế hệ Người Sài Gòn - Gia Định đã trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, đã cùng quân đội nhà Nguyễn tổ chức chống thực dân Pháp, điều nãy hãy còn ghi dấu ấn trong lịch sử. Tất cả các cuộc khởi nghĩa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX cho thấy người dân Sài Gòn - Gia Định một lòng, đoàn kết đấu tranh tạo nên "Hào khí Đồng Nai - Bến Nghé".
Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940), tinh thần kiên cường, dũng cảm của nhân dân Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Đức, Nhà Bè và nhiều nơi khác ở vùng ven, phụ cận Sài Gòn cùng với những tấm gương hy sinh oanh liệt trên Ngã Ba Giồng của các anh hùng Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Hữu Tiến. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, người Sài Gòn càng tạo ra những vùng đất oanh liệt: "Mặt trận cầu Thị Nghè", "Mặt trận Đồng Ông Cộ", "Mười Tám Thôn Vườn Trầu", "Vùng Bưng Sáu Xã", "Củ Chi Đất thép, thành đồng", "Chiến khu An Phú Đông", "Chiến khu Rừng Sác".
TPHCM nghĩa tình được hình thành bằng lịch sử mở đất, được phát triển bằng lịch sử giữ đất và ngày nay, cốt cách này càng được đề cao và phát huy qua các chính sách phát triển kinh tế xã hội. Đất nước bước sang kỷ nguyên độc lập, thống nhất, hòa bình, phát triển, phẩm chất nghĩa tình càng được nhà nước, đoàn thể giữ gìn, phát huy thông qua nhiều chính sách và hành động thiết thực.
Ngoại tôi nói, TPHCM thời hiện đại, nghĩa nằm ở cốt cách và tình trong từng chính sách. Nghĩa tình như một viên ngọc quý, soi sáng lòng dân tứ xứ về ở đất này để rồi chính họ lại là những người tiếp tục mài để viên ngọc sáng thêm chữ nhân, đậm thêm chữ nghĩa, để tình càng sâu với đất, nghĩa càng nặng với đời, để nó mãi xứng danh là "hòn ngọc Viễn Đông", hòn ngọc được mài giũa từ cốt cách tử tế, có trước có sau, trọn nghĩa vẹn tình của bao thế hệ con người Sài Gòn - Gia Định - TPHCM, một thứ nghĩa tình chân phương nhưng bền chắc đời đời.
[1] Quốc sử quán triều Nguyễn (2012), Đại Nam nhất thống chí, tập 2
[2] Gia Định thành thông chí - Trịnh Hoài Đức
[3] Lối sống nghĩa tình tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay – Phạm Đào Thịnh
[4] Người mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại - Hồ Biểu Chánh

1 hour ago
2







