Phân quyền nhưng không buông quyền kiểm soát
Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Nguyễn Ngọc Sơn (đoàn TP. Hải Phòng) nhìn nhận, sản lượng nhiều mỏ hiện hữu đang suy giảm, các mỏ mới chủ yếu là mỏ nhỏ, cận biên, trong khi tiềm năng còn lại ngày càng tập trung ở vùng nước sâu, xa bờ, địa chất phức tạp.
Theo ông Sơn, thực tế này đòi hỏi pháp luật phải chuyển mạnh từ quản lý nặng về trình tự, thủ tục sang quản trị theo hiệu quả và rủi ro. Nếu không, có thể xuất hiện nghịch lý “có tài nguyên nhưng không thể thương mại hóa tài nguyên”.
ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn. Ảnh: Như Ý. Ông Sơn cũng lo ngại, với những mỏ ở cuối đời khai thác, áp suất vỉa thấp, trữ lượng nhỏ, chỉ cần gián đoạn khai thác cũng có thể khiến chi phí khôi phục tăng mạnh, thậm chí phần dầu khí còn lại không còn hiệu quả kinh tế. “Chính sự chậm trễ của thủ tục có thể làm mất phần tài nguyên cần tận thu”, ông Sơn cảnh báo.
Từ đó, đại biểu đề nghị xác lập nguyên tắc bảo đảm liên tục khai thác là ưu tiên hàng đầu, cho phép chuẩn bị phương án tiếp quản song song ngay khi quyết định phương án xử lý, thay vì chờ đến khi chỉ còn 3 tháng.
Trong khi đó, ĐBQH Trịnh Xuân An (đoàn TP. Đồng Nai) quan tâm đến địa vị pháp lý của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của “nước chủ nhà”.
Theo ông An, cần phân biệt rõ hai tư cách của tập đoàn. Một là doanh nghiệp nhà nước trực tiếp đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Hai là chủ thể được nhà nước giao thực hiện quyền và nghĩa vụ của nước chủ nhà theo Luật Dầu khí.
Hai tư cách này có mục tiêu, trách nhiệm và cơ chế kiểm soát khác nhau. Vì vậy, ông đề nghị bổ sung nguyên tắc khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của nước chủ nhà, tập đoàn phải thực hiện nhiệm vụ do nhà nước giao, độc lập với hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; đồng thời chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Công Thương và sự kiểm tra, giám sát theo pháp luật.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu (đoàn TP. Huế) bày tỏ ủng hộ dự thảo luật, tuy nhiên, lưu ý, tinh thần tạo điều kiện thông thoáng cho đầu tư nhưng phải quản lý chặt chẽ, đồng thời cũng phải bảo đảm tối đa lợi ích quốc gia. Theo bà Sửu, việc phân quyền cho Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam trên tinh thần “càng giao quyền lớn càng phải có cơ chế kiểm soát tương xứng”, “phân quyền nhưng không buông quyền kiểm soát”.
Đại biểu Nguyễn Thị Sửu. Ảnh: Như Ý
Bà Sửu cũng nêu, về mức thu hồi chi phí và ưu đãi đầu tư, cần giữ ưu đãi nhưng phải có giới hạn và điểm kết thúc. Làm sao bảo đảm tính hấp dẫn của chính sách nhưng tránh để ưu đãi trở thành một đặc quyền kéo dài hơn mức cần thiết. Một vấn đề nữa, theo bà Sửu, cần chia sẻ rủi ro dầu khí nhưng không chuyển rủi ro quản trị doanh nghiệp sang nguồn lực Nhà nước.
“Tôi chia sẻ rằng thăm dò dầu khí có rủi ro địa chất, kỹ thuật và thương mại rất cao, nhưng cần phân biệt rủi ro khách quan của hoạt động dầu khí với quyết định đầu tư sai, vi phạm quy trình hoặc lỗi chủ quan. Nếu không phân định rõ, cơ chế chia sẻ rủi ro có thể vô tình trở thành cơ chế "xã hội hóa tổn thất nhưng tư nhân hóa lợi ích"”, nữ đại biểu nói.
Cấp nào nắm rõ về việc gì thì phải ra quyết định việc đó
Giải trình sau đó, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng cho biết, cơ quan soạn thảo sẽ nghiêm túc tiếp thu đầy đủ, toàn diện các ý kiến của đại biểu Quốc hội.
Nêu một số vấn đề cụ thể, liên quan đến vấn đề phân cấp, phân quyền và vai trò của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, ông Hùng cho biết, tinh thần xuyên suốt và nổi bật của dự thảo luật là tăng cường phân cấp, giao quyền, đơn giản hóa thủ tục nhằm khơi thông nguồn lực, đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát, phù hợp với chủ trương của Đảng, thông lệ công nghiệp dầu khí quốc tế; phù hợp với tinh thần đổi mới về quản trị, cấp nào nắm rõ nhất về việc gì thì phải ra quyết định về việc đó.
Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng. Ảnh: Như Ý. Theo ông Hùng, mô hình quản lý nhà nước khi luật được thông qua sẽ được phân thành 3 cấp.
Cấp thứ nhất, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ quyết định những vấn đề vĩ mô, những vấn đề quan trọng như phân lô dầu khí, ưu đãi đầu tư, và đặc biệt là về quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Cấp thứ hai là các cơ quan quản lý nhà nước, trong đó Bộ Công Thương chủ trì đầu mối cùng các bộ, ngành và địa phương, thực hiện vai trò quản lý nhà nước chuyên ngành để phê duyệt những nội dung thuộc về quản lý nhà nước như hợp đồng dầu khí, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quản lý tài nguyên trữ lượng dầu khí, thực hiện các hoạt động kiểm tra, giám sát.
Cấp thứ ba là Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam, với vai trò là đại diện nước chủ nhà, được giao một số quyền trong ký kết, quản lý, theo dõi, giám sát các hoạt động dầu khí, đặc biệt là phê duyệt những nội dung có tính chất cụ thể, kỹ thuật và thuộc thẩm quyền.
Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng cũng cho biết, Chính phủ sẽ quy định chi tiết việc tổ chức kiểm tra, giám sát. Trên cơ sở dữ liệu của tập đoàn và các nhà thầu dầu khí báo cáo, cơ quan quản lý nhà nước sẽ giám sát dựa trên dữ liệu và kiểm toán dựa trên định hướng rủi ro. Dự thảo luật cũng quy định rất rõ về trách nhiệm quản lý, giám sát của cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước, giám sát việc đầu tư, bảo toàn và phát triển vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp.
Nêu nhóm vấn đề về chính sách ưu đãi đầu tư trong hoạt động dầu khí, theo Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng, các dự án dầu khí càng ngày càng ở các vùng nước sâu, xa bờ, có điều kiện triển khai khó khăn hơn, địa chất phức tạp hơn, vốn đầu tư lớn hơn, thời gian thu hồi vốn dài hơn. Đặc biệt là nhiều mỏ nhỏ cận biên, nếu áp dụng cơ chế thông thường sẽ không đủ điều kiện để nhà đầu tư triển khai dự án.
“Luật đã thiết kế chính sách để khuyến khích nhà đầu tư đầu tư phát triển khoa học công nghệ nhằm nâng cao hệ số thu hồi dầu, khai thác tận thu các cụm mỏ, lô dầu khí, đặc biệt là nhằm thu hút các nhà đầu tư để gia tăng sản lượng khai thác dầu khí, đóng góp nhiều hơn nữa cho ngân sách và đóng góp nhiều hơn cho năng lượng sơ cấp của đất nước”, ông Hùng nêu thêm.

2 hours ago
10







