Hà Tiên thập vịnh của cha con Mạc Thiên Tích
Hà Tiên thập vịnh mô tả mười cảnh đẹp Hà Tiên. Đề tài này được đề xuất trong những cuộc nói chuyện thơ giữa Mạc Thiên Tích và thương nhân Quảng Đông (Trung Quốc) là Trần Trí Khải vào năm 1736. Mười cảnh được chọn gồm: Kim Dự lan đào (hòn Kim Dự chắn sóng), Bình San điệp thúy (núi Bình San chồng biếc), Tiêu tự hiểu chung (tiếng chuông sớm chùa Tiêu), Giang Thành dạ cổ (tiếng trống đêm ở Giang Thành), Đông Hồ ấn nguyệt (trăng in mặt nước Đông Hồ), Nam Phố trừng ba (sóng trong ở Nam Phố), Châu Nham lạc lộ (cò về đậu ở Châu Nham), Thạch Động thôn vân (Thạch Động nuốt mây), Lộc Trĩ thôn cư (thôn làng Lộc Trĩ) và Lư Khê ngư bạc (thuyền cá đậu ở Lư Khê).

Tranh Tượng Tỉnh lão phố (ông già trồng rau ở Giếng Tượng) tại đình Thành Hoàng
Ảnh: TRẦN HOÀNG VŨ
Sau khi quay về nước, Trần Trí Khải đem mười đề tài này giới thiệu cho văn nhân trong thi xã ở Quảng Đông, mà ông là một thành viên. Những thơ họa lại được đóng thành một tập, gửi ngược sang Hà Tiên. Mạc Thiên Tích đã dựa vào đó để soạn thành tập thơ Hà Tiên thập vịnh. Tập thơ được khắc in năm 1737, chia thành 2 quyển thượng và hạ. Đó là văn bản duy nhất mà giới nghiên cứu chú ý.
Nhưng Hà Tiên thập vịnh còn có 1 phiên bản thứ hai do người con trai của Mạc Thiên Tích là Mạc Tử Hoàng biên soạn. Năm 1756, Mạc Tử Hoàng đã mang thơ này sang Trung Quốc, tới tỉnh Giang Tô yết kiến danh sĩ Triệu Phi Liệt để nhờ ông điểm định (nghĩa là phê bình và chỉnh sửa). Triệu Phi Liệt là học giả nổi tiếng thời đó, rất giỏi về thư họa, học vấn cũng thâm sâu. Học trò khắp Trung Quốc đều tìm tới. Triệu Phi Liệt đã đề tựa cho tập thơ của Mạc Tử Hoàng, để Mạc Tử Hoàng khắc in. Đó là Hà Tiên thập vịnh phiên bản thứ hai.

Chân dung nhà thơ, nhà cách mạng Nguyễn Thần Hiến
Ảnh: TRẦN HOÀNG VŨ
Sở dĩ gọi là phiên bản thứ hai vì không chỉ đó là một bản in độc lập, mà tinh thần sáng tác cũng có chỗ khác. Hầu hết các nhà thơ Chiêu Anh Các đều họa vần thơ của Mạc Thiên Tích.
Trong mười bài Hà Tiên thập vịnh, Mạc Thiên Tích dùng bộ vần Hạ bình thanh của sách Bội văn vận phủ. Đây là quyển từ điển được nhà Thanh biên soạn trong khoảng 1707 - 1711, nội dung là nói về những điển tích và cách dùng vần điệu trong thi ca. Chùm thơ của Mạc Tử Hoàng tuy không còn đầy đủ, nhưng còn sót lại 2 câu đầu của bài Kim Dự lan đào: "Hải môn tỏa thược hạn tây đông, Đái lệ sơn hà trấn quốc hùng". Có thể thấy, nó dùng vần Đông là vần thứ nhất của Thượng bình thanh trong Bội văn vận phủ.
Hà Tiên thập vịnh hậu Chiêu Anh Các
Hoạt động văn chương lấy cảm hứng từ mười cảnh Hà Tiên vẫn được tiếp tục sau thời họ Mạc. Các thi nhân ở Hà Tiên vẫn sáng tác thơ Hán và Nôm dựa trên đề tài ấy. Mặc dù vậy, nhiều đứt gãy trong quá trình truyền bá khiến ngày nay ta không còn biết ai là tác giả những bài thơ này.
Khoảng cuối thế kỷ 19, một trí thức Hà Tiên là Trần Đình Quang (? - 1900) có chép lại nhiều bài thơ Hán Nôm về mười cảnh Hà Tiên. Ông cho rằng nhiều bài thơ Hán và Nôm trong đó là của Mạc tiên công - tức Mạc Thiên Tích . Nhưng 4 bài mà ông cho là của Mạc Thiên Tích đều không phải. Đó là các bài Thạch Động thôn yên (nhầm, phải là thôn vân mới đúng), Kim Dự lan đào, Tiêu Tự thần chung, Giang Thành dạ cổ. Chẳng hạn, bài Thạch Động thôn yên của "Mạc tiên công" mở đầu:
Sơ khai dự thế trấn kim ngao
Củng cố nam thiên bất lộng đào
Trong khi bài thơ Kim Dự lan đào của Mạc Thiên Tích lại mở đầu:
Nhất đảo thôi ngôi điện bích liên
Hoành lưu kỳ thắng tráng Hà Tiên
Điều này cho thấy tác giả không hề họa lại vần thơ của Mạc Thiên Tích, mà đã sáng tác hẳn một bài mới với vần khác. Do đó, tác giả phải thuộc về một thế hệ thứ ba không liên quan đến cha con Mạc Thiên Tích.
Trong tình trạng tư liệu hiện tại, ta không biết ai là tác giả thực sự của những bài thơ này. Nhưng ít nhất vào thời Tự Đức, ở Hà Tiên vẫn còn sáng tác thơ Hà Tiên thập vịnh. Nguyễn Lượng làm Án sát Hà Tiên khoảng năm 1852 đã viết bài thơ Châu Nham lạc lộ. Năm 1888, khi dựng đình thần Thành Hoàng ở xã Mỹ Đức (nay thuộc P.Hà Tiên, An Giang), bài thơ được viết lên tường đình cùng với thơ của Mạc Thiên Tích và Nguyễn Cư Trinh.
Chính những nhân sĩ tham gia xây dựng đình này cũng sáng tác những bài Hà Tiên thập vịnh mới. Bốn tác giả có thơ được ghi trên vách đình bao gồm: Nguyễn Thần Hiến (về sau là nhà cách mạng tham gia phong trào Đông Du), Huỳnh Thoại Nguyên, Lâm Tử Ngang, Lê Quang Khanh. Họ còn mở rộng chọn thêm nhiều cảnh đẹp của Hà Tiên. Không chỉ làm thơ, Huỳnh Thoại Nguyên còn vẽ một bức tranh thủy mặc bên dưới mỗi bài thơ. Đáng tiếc, di sản thơ họa đó đến nay hầu như đã mất đi phần lớn. (còn tiếp)

2 hours ago
5







