Quảng Cáo
0943778078
Tô Kiên
Chuyên gia Quy hoạch và Thiết kế đô thị
Tranh cãi “dềnh nước” hay là “ngập úng” dâng lên khi đại diện Sở Xây dựng cho biết: “Mực nước ngập từ 30 cm và quá 30 phút mới được coi là ngập úng… nước chỉ hơn 20 cm nên gọi là dềnh nước”.
Nhận định được nhà chức trách đưa ra khi trả lời chất vấn về khả năng thoát nước của thành phố, trước tình trạng một số khu vực ngập úng cục bộ trong trận mưa hôm 9/7.
Thoạt nghe, đây dường như chỉ là một khác biệt về thuật ngữ. Nhưng nhìn sâu hơn, câu chuyện không nằm ở hai chữ "dềnh nước". Nó đặt ra ba vấn đề lớn hơn: sự lệch chuẩn so với cơ sở khoa học, cách sử dụng ngôn ngữ trong quản trị công và nguy cơ hình thành một tiền lệ đáng lo ngại.
Trong các quy chuẩn như QCVN 07:2016/BXD và TCVN 7957:2023, không đâu đề cập đến khái niệm "dềnh nước" khi mô tả tình trạng nước tích tụ trên mặt đường. Trong thủy lực học, "dềnh" (surcharging) chỉ tình trạng áp lực trong ống tăng nhưng nước vẫn chưa tràn lên mặt đất. Khi nước không còn có thể thu gom trong hệ thống mà tràn lên mặt đường và dâng tới 20 cm, đó là ngập đô thị (urban flooding) do hệ thống thoát nước quá tải.
Các tài liệu quốc tế uy tín như CIRIA (Anh) và ASCE (Mỹ) cũng phân biệt rõ ponding (ứ nước tạm thời) và urban flooding (ngập, nước vượt ngưỡng thiết kế). Tình trạng ngập nước trên phố Quang Trung hôm 9/7 gần với trường hợp thứ hai.
Hơn nữa, cơ sở nào đặt ngưỡng trên 30 cm? Không thể máy móc bê nguyên tiêu chuẩn kỹ thuật ở nước ngoài vào bối cảnh Việt Nam, vì ngưỡng 30 cm thường áp dụng cho đô thị mà ôtô chiếm ưu thế ở các nước phát triển, trên cơ sở chiều cao gầm xe. Trong khi đó, các đô thị lớn ở Việt Nam vẫn là nơi xe máy chiếm hơn 80% lưu lượng. Nước dâng 20 cm trở lên đủ để tràn vào ống pô phần lớn xe máy phổ thông, gây chết máy và ùn tắc dây chuyền. Bó vỉa phổ biến chỉ 15-20 cm, nên quá mức đó cũng khiến nước dễ tràn lên vỉa hè, vào các mặt tiền và tầng hầm, gây mất an toàn và thiệt hại kinh tế.
Lập luận về thời gian cũng chưa thật thuyết phục. Tại các lưu vực nhỏ ở trung tâm Hà Nội, chỉ cần ngập 15-30 phút là biết bao thiệt hại xảy ra: giao thông tê liệt, người dân trễ giờ làm, phương tiện hỏng hóc. Đợi quá mốc ấy mới gọi là "ngập" là cách tiếp cận quá cơ học đối với một đô thị gần 10 triệu dân.
Tuy nhiên, nếu câu chuyện chỉ dừng ở một tranh luận kỹ thuật thì có lẽ cũng chỉ thuộc phạm vi của giới chuyên môn. Vấn đề là một tiêu chí vận hành nội bộ đã bị đem ra dùng sai mục đích khi giải trình trước công chúng.
Trong quản trị hạ tầng, tiêu chí vận hành chủ yếu nhằm phân loại, thống kê hoặc xác định khi nào cần kích hoạt một hành động cụ thể: như đóng đường, tăng bơm thoát nước hay ứng phó khẩn cấp. Nó không phải ngưỡng để xác nhận hay phủ nhận sự tồn tại của một hiện tượng.
Cảnh báo sóng thần có thể chỉ phát đi khi mực nước vượt ngưỡng nguy hiểm, nhưng con sóng thấp hơn vẫn là sóng thần và có thể gây thiệt hại. Khi bạn ốm, 37,8 độ C vẫn là sốt dù chưa đến ngưỡng "phải uống hạ sốt ngay". Cùng logic đó, một tuyến phố ngập 20 cm, khiến xe chết máy, giao thông cản trở, sinh hoạt đảo lộn vẫn là ngập đô thị, dù có thể chưa chạm ngưỡng kích hoạt quy trình vận hành.
Tóm lại, cơ quan quản lý có quyền xây dựng các ngưỡng nội bộ để thống kê hoặc kích hoạt quy trình vận hành, nhưng đem ngưỡng đó ra để phủ định thực tế mà người dân phải vật lộn là sự nhầm lẫn nguy hiểm. Khi nước đã tràn phố, xe đã chết máy, người dân đã bị ảnh hưởng, thì ngụy biện câu chữ có thể gây bất bình và đặt ra câu hỏi về sự công tâm trong cách nhìn nhận một vấn nạn đô thị.
Trong tương lai, nếu tiếp tục sử dụng ngưỡng vận hành sai mục đích xa hơn, đem "ngập chỉ được tính từ 30 cm và kéo dài quá 30 phút" vào tài liệu thống kê hay bản đồ ngập, số điểm úng ngập của Hà Nội có thể giảm đáng kể mà không cần thêm một mét cống hay một hồ điều hòa nào. Jakarta cũng từng gây tranh cãi lớn trong dư luận khi gọi ngập là "genangan" (vũng nước) thay vì "banjir" (ngập lụt). Và cách gọi cũng không cứu vãn được tình thế, khiến sau này phải dời thủ đô.
Vì thế, giảm ngập bằng định nghĩa trên giấy không làm nước rút ngoài phố.
Nguy hiểm hơn, cách thức này có thể lan sang các địa phương - như ở TP HCM từng có cách gọi "ngập" là "tụ nước" - cũng như các lĩnh vực khác: "ùn tắc" chỉ tính khi xe đứng yên quá 30 phút còn nhúc nhích từng mét thì gọi là "ùn ứ", "ô nhiễm nghiêm trọng" chỉ được thừa nhận khi AQI vượt ngưỡng đỏ, còn mức thấp hơn thì chỉ gọi là "chất lượng không khí suy giảm". Tiêu chuẩn kỹ thuật - vốn sinh ra để bảo vệ con người - sẽ mất ý nghĩa khi bị biến thành công cụ chơi chữ để né tránh thực tế.
Điều đáng ghi nhận là, chính cơ quan chức năng cũng thừa nhận nguyên nhân lần này là chậm mở cửa xả trong giai đoạn nghiệm thu - lỗi quy trình và con người, chứ không phải lỗi của hệ thống hạ tầng tiền tỷ đã bỏ ra.
Cũng cần nhìn nhận công tâm rằng bài toán ngập của Hà Nội được tích tụ qua nhiều thập niên và không thể giải quyết trong một sớm một chiều. Thành phố đang đi đúng hướng với định hướng "thành phố bọt biển", triển khai cảm biến IoT, xây dựng Trung tâm điều hành thoát nước thông minh cùng mục tiêu xử lý nhiều điểm ngập vào năm 2026 - càng cần một hệ thống tiêu chuẩn và cách truyền thông dựa trên khoa học.
Vậy cần làm gì để cải thiện?
Trước hết, thành phố cần sớm xây dựng và pháp lý hóa khung phân loại ngập thống nhất, tương thích với tinh thần của TCVN 7957:2023 cũng như thông lệ của ASCE (Mỹ) và CIRIA (Anh). Khung này phải phân biệt rõ giữa đọng nước, ngập cục bộ và ngập nghiêm trọng dựa trên tổng hợp các tiêu chí như độ sâu, thời gian tồn tại và mức độ ảnh hưởng đến giao thông, sinh hoạt, thay vì chỉ dựa vào một ngưỡng centimet duy nhất.
Cùng với đó, hiệu quả của các dự án chống ngập cần được đánh giá bằng các chỉ số hiệu năng thực tế thay vì chỉ kết luận rằng "nước đã rút". Điều quan trọng là mặt đường mất bao lâu để khô trở lại, và hệ thống cửa phai, trạm bơm đã được tự động hóa để phản ứng theo dữ liệu thời gian thực hay vẫn phụ thuộc vào vận hành thủ công.
Quy hoạch thoát nước cũng cần được cập nhật khi tần suất mưa cực đoan đã vượt xa các giả định thiết kế trước đây. Nếu không, mọi khoản đầu tư chống ngập sẽ dần trở thành cuộc chạy đua với những tiêu chuẩn đã lỗi thời.
Không kém phần quan trọng là thay đổi cách truyền thông trong quản lý khủng hoảng hạ tầng. Thay vì cố chứng minh "đây không phải ngập", một thông điệp giải trình chuyên nghiệp nên bắt đầu bằng việc thừa nhận sự việc, công bố nguyên nhân và cam kết hành động.
Nói bằng dữ liệu, nhận diện đúng rủi ro và cam kết hành động - đó mới là ngôn ngữ của quản trị hiện đại. Khi dữ liệu về mực nước, thời gian ngập và lưu lượng tiêu thoát được công khai và kết nối trực tiếp với hệ thống vận hành, những tranh cãi về câu chữ sẽ tự khép lại.
Sự liêm chính trong sử dụng khái niệm kỹ thuật không chỉ là chuyện ngôn từ. Đó là điểm khởi đầu của quản trị tốt, và cũng là điểm khởi đầu để Hà Nội trả món nợ đã quá lâu với người dân: một hệ thống thoát nước xứng tầm với khát vọng của Thủ đô đang vươn mình.
Tô Kiên








