Sau hơn 3 tháng trở thành tâm điểm của cuộc khủng hoảng địa chính trị nghiêm trọng nhất thế giới năm 2026, eo biển Hormuz - tuyến hàng hải vận chuyển khoảng 20% lượng dầu khí toàn cầu - đứng trước khả năng được mở cửa trở lại theo thỏa thuận hòa bình giữa Mỹ và Iran dự kiến ký kết ngày 19/6.
Thông tin lập tức thổi luồng sinh khí mới vào thị trường năng lượng và chứng khoán quốc tế. Tuy nhiên, giới chuyên gia cảnh báo việc khôi phục hoàn toàn dòng chảy thương mại qua Hormuz không diễn ra một sớm một chiều. Tổn thất kinh tế tích tụ suốt nhiều tháng qua, đặc biệt tại châu Á, có thể còn kéo dài đến cuối năm, thậm chí lâu hơn.
Điều kiện để eo biển Hormuz được mở lại
Ngày 15/6, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố Washington và Tehran đạt được thỏa thuận hòa bình sơ bộ, dự kiến chính thức ký kết vào ngày 19/6. Mỹ dỡ bỏ lệnh phong tỏa hải quân đối với các cảng của Iran, trong khi Tehran đồng ý khôi phục hoạt động hàng hải bình thường tại eo biển Hormuz.
"Tôi chính thức cho phép mở cửa eo biển Hormuz mà không thu phí, đồng thời cho phép dỡ bỏ ngay lập tức lệnh phong tỏa hải quân của Mỹ", ông Trump viết trên mạng xã hội.
Ông Trump cũng cho biết việc rà phá thủy lôi được tiến hành ngay sau khi thỏa thuận ký kết, tạo điều kiện để các tàu thương mại và tàu chở dầu hoạt động trở lại.
Lộ trình mở cửa eo biển Hormuz mất nhiều thời gian, công sức.
Phía Iran đưa ra lộ trình thận trọng hơn. Thứ trưởng Ngoại giao Iran Kazem Gharibabadi cho biết hai bước đi quan trọng được triển khai ngay sau khi thỏa thuận được công bố, gồm chấm dứt các hoạt động quân sự và dỡ bỏ phong tỏa hàng hải.
Theo các hãng truyền thông của Iran, việc mở lại hoàn toàn eo biển Hormuz diễn ra trong khoảng 30 ngày, phù hợp với các điều kiện và cam kết mà Tehran đặt ra. Việc dỡ bỏ phong tỏa đối với Iran cũng được thực hiện theo lộ trình tương tự.
Thỏa thuận hòa bình mở ra giai đoạn đàm phán kéo dài 60 ngày liên quan đến chương trình hạt nhân của Iran, một trong những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến khủng hoảng.
Kể từ khi xung đột bùng phát ngày 28/2, Iran gần như kiểm soát hoàn toàn hoạt động vận tải tại eo biển Hormuz, tạo ra đòn bẩy chiến lược lớn đối với nền kinh tế thế giới.
Hormuz là cửa ngõ nối Vịnh Ba Tư với Ấn Độ Dương. Mỗi ngày trước chiến tranh có trung bình khoảng 138 lượt tàu qua lại tuyến đường này. Đây là tuyến vận tải quan trọng bậc nhất thế giới đối với dầu thô, khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), hóa chất, phân bón và nhiều nguyên liệu công nghiệp thiết yếu.
Theo các tổ chức năng lượng quốc tế, khoảng 20% lượng dầu khí toàn cầu được vận chuyển qua eo biển Hormuz. Riêng đối với châu Á, hơn 80% lượng dầu mỏ và LNG đi qua tuyến hàng hải này có điểm đến là các nền kinh tế trong khu vực.
Việc tuyến đường bị gián đoạn đã khiến gần 1.000 tàu và khoảng 20.000 thủy thủ mắc kẹt tại Vịnh Ba Tư trong nhiều tháng.
Dù lệnh ngừng bắn đã được áp dụng từ ngày 8/4, nhiều vụ tấn công lẻ tẻ nhằm vào tàu thương mại vẫn tiếp diễn. Nguy cơ thủy lôi còn sót lại trên luồng hàng hải khiến các hãng vận tải chưa sẵn sàng đưa tàu quay trở lại lập tức.
Các chuyên gia cho rằng yếu tố an ninh sẽ là rào cản lớn nhất đối với quá trình khôi phục lưu thông hàng hải.
Châu Á chịu ảnh hưởng nặng nề nhất
Hơn 3 tháng qua, nhiều đồng tiền châu Á mất giá mạnh, lạm phát tăng tốc và chuỗi cung ứng công nghiệp bị gián đoạn. Các nền kinh tế đang phát triển phụ thuộc lớn vào năng lượng nhập khẩu từ Trung Đông như Pakistan, Việt Nam và Philippines chịu tác động rõ rệt nhất.
Tại Philippines, chính phủ thậm chí ban bố tình trạng khẩn cấp năng lượng và áp dụng biện pháp tiết giảm tiêu thụ điện.
Nhật Bản và Hàn Quốc dù sở hữu nguồn dự trữ chiến lược lớn hơn vẫn đối mặt áp lực giá dầu tăng cao, đồng nội tệ suy yếu và thiếu hụt nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế tạo.
Joshua Ngu - Phó Chủ tịch khu vực châu Á - Thái Bình Dương của hãng tư vấn năng lượng Wood Mackenzie - nhận định việc mở lại Hormuz sẽ mang đến sự giải tỏa tức thời đối với thị trường.
"Tin tốt là dầu mỏ và một phần khí đốt được khai thác trở lại khi eo biển mở cửa. Nhưng mỗi ngày tuyến đường này đóng cửa đều tạo thêm những gián đoạn kinh tế sâu rộng hơn đối với chuỗi cung ứng", ông Joshua Ngu nói.
Một trong những kỳ vọng lớn nhất sau thông tin hòa bình là giá dầu và khí đốt sẽ giảm nhiệt. Tuy nhiên, các nhà kinh tế cảnh báo tác động của việc mở lại Hormuz sẽ đến chậm hơn kỳ vọng.
Ngay cả khi các tàu chở dầu được phép di chuyển trở lại sau ngày 19/6, hành trình từ Vịnh Ba Tư tới các cảng châu Á và quay trở lại cũng mất nhiều tuần hoặc nhiều tháng. Các hãng bảo hiểm hàng hải và doanh nghiệp vận tải vẫn cần thêm thời gian để đánh giá mức độ an toàn trước khi khôi phục hoạt động bình thường.
Thị trường LNG tại châu Á thường có độ trễ từ 3-6 tháng so với biến động của giá dầu. Điều đó đồng nghĩa giá dầu có thể hạ nhiệt trong mùa hè nhưng giá khí đốt tự nhiên vẫn duy trì ở mức cao đến cuối năm.
Còn quá sớm để kỳ vọng thị trường trở lại bình thường.
Tác động đầy đủ của đợt tăng giá dầu lên vùng 100 USD/thùng hồi tháng 3 thậm chí vẫn chưa phản ánh hết thị trường khí đốt hiện nay. Thị trường vẫn đang ở giai đoạn mong manh.
Cuộc khủng hoảng Hormuz còn gây ra những tác động sâu rộng tới nhiều ngành công nghiệp. Một trong những lĩnh vực chịu ảnh hưởng lớn nhất là phân bón.
Iran, Saudi Arabia, Qatar, UAE và Bahrain hiện chiếm hơn một phần ba nguồn cung urê toàn cầu - loại phân bón nitơ quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp.
Việc gián đoạn xuất khẩu từ khu vực Vịnh Ba Tư đã gây áp lực lên mùa gieo trồng cao điểm tại Đông Nam Á từ tháng 5 đến tháng 7.
Albert Park - Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) - cảnh báo nguồn cung phân bón bị gián đoạn trong giai đoạn canh tác then chốt, hậu quả có thể chỉ xuất hiện vào cuối năm dưới dạng sản lượng nông nghiệp sụt giảm và nguy cơ mất an ninh lương thực.
Các doanh nghiệp Nhật Bản và Hàn Quốc đối mặt với tình trạng thiếu hụt naphtha - nguyên liệu hóa dầu quan trọng dùng để sản xuất bao bì thực phẩm, nhựa công nghiệp và nhiều sản phẩm tiêu dùng khác.
Nguồn cung helium, khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG) cùng nhiều hóa chất công nghiệp cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Theo ông Haruhiko Sakaino - cố vấn Cơ quan Tài nguyên và Năng lượng Nhật Bản - việc đưa chuỗi cung ứng naphtha trở lại trạng thái bình thường có thể mất ít nhất một năm kể từ khi hoạt động vận tải được khôi phục.
"Không đơn giản chỉ là nối lại nhập khẩu. Nó giống như những mao mạch đã bị tổn thương và cần rất nhiều thời gian để hồi phục", ông Haruhiko Sakaino ví von.

1 hour ago
5







