More forecasts: 30 day weather forecast Orlando

Giảng viên cấp cao ngành Trí tuệ nhân tạo nói về thu hẹp "khoảng cách kép" về giới trong kỷ nguyên AI

1 hour ago 1
Quảng Cáo

0943778078

SVO - Nghiên cứu cho thấy phụ nữ vẫn là nhóm thiểu số tại các phòng lab AI và cũng ít sử dụng AI tại nơi làm việc hơn nam giới. Hai giảng viên RMIT Việt Nam phân tích tác động của sự mất cân bằng này và gợi ý cách khiến AI trở thành công cụ thúc đẩy bình đẳng giới.

AI đang dần trở thành một công cụ quen thuộc trong đời sống hằng ngày trên khắp thế giới. Thế nhưng, “khoảng cách kép” về giới cũng đang xuất hiện: số phụ nữ tham gia phát triển các hệ thống AI còn ít và số phụ nữ sử dụng AI một cách chủ động cũng chưa nhiều.

Một khảo sát năm 2024 trên 25.000 lao động cho thấy 59% nam giới dùng công cụ AI tạo sinh ít nhất một lần/tuần, trong khi ở nữ giới chỉ là 51%. Ở nhóm tuổi 18-24, khoảng cách còn lớn hơn: 71% so với 59%.

Về phía phát triển công nghệ, phụ nữ cũng chưa có sự hiện diện tương xứng trong các đội ngũ thiết kế và kiểm thử AI. Diễn đàn Kinh tế Thế giới ước tính phụ nữ chỉ chiếm khoảng 30% lực lượng lao động AI toàn cầu năm 2023. Điều này khiến các hệ thống AI dễ lặp lại những khuôn mẫu giới cũ, đồng thời lợi ích năng suất mà AI mang lại có thể phân bổ không đồng đều.

Vì sao “ai xây dựng AI” lại quan trọng

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Thủy, giảng viên cấp cao ngành Trí tuệ nhân tạo tại Đại học RMIT Việt Nam, AI và bình đẳng giới có liên hệ mật thiết bởi các hệ thống AI học từ dữ liệu của thế giới thực – nơi vốn tồn tại nhiều bất bình đẳng giới kéo dài. Nếu không có sự tham gia của nhiều nhóm khác nhau để nhận diện vấn đề từ sớm, những định kiến này rất dễ ăn sâu vào hệ thống và lan rộng.

“AI có thể trở nên thiếu khách quan khi không có đủ phụ nữ tham gia thiết kế hoặc kiểm thử. Nếu đội ngũ phát triển chủ yếu là nam giới, họ có thể bỏ sót những điểm mù ảnh hưởng đến phụ nữ”, bà nói.

hinh-1-nguon-rmit-2.jpg Tiến sĩ Nguyễn Thị Thủy, giảng viên cấp cao ngành Trí tuệ nhân tạo, Khoa Khoa học, Kỹ thuật và Công nghệ, Đại học RMIT Việt Nam (Hình: RMIT)

Tiến sĩ Thủy dẫn ví dụ năm 2018 về một công cụ tuyển dụng thử nghiệm của Amazon. Do được huấn luyện dựa trên hồ sơ xin việc trong ngành công nghệ – một ngành do nam giới thống trị trong suốt nhiều năm – công cụ đã học cách tự động hạ điểm các hồ sơ chứa từ khóa “women’s” (thuộc về phụ nữ), chẳng hạn như đội trưởng câu lạc bộ cờ vua nữ hoặc tốt nghiệp trường nữ sinh. Công cụ cũng ưu tiên những động từ mạnh thường xuất hiện trong hồ sơ xin việc của nam giới.

Amazon đã ngừng sử dụng công cụ này khi phát hiện thiên lệch, nhưng Tiến sĩ Thủy cho rằng đây là ví dụ điển hình cho thấy việc thiếu phụ nữ trong khâu thiết kế, kiểm thử và rà soát có thể khiến những thiên kiến ẩn dễ dàng len lỏi vào hệ thống AI và bị khuếch đại.

Bà cũng cho biết nhiều đội ngũ phát triển AI hiện nay chủ yếu gồm nam giới có nền tảng khá giống nhau, nên họ có thể không nhận ra cách hệ thống đối xử thiếu công bằng với phụ nữ hoặc những người xuất thân từ các nền văn hóa không phải phương Tây. “Việc có thêm phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ châu Á tham gia lĩnh vực AI là rất quan trọng, vì đội ngũ đa dạng mang đến trải nghiệm sống, góc nhìn và hiểu biết văn hóa khác nhau, giúp phát hiện và sửa các thiên kiến tiềm ẩn trước khi chúng lan rộng”, bà nói.

Phụ nữ châu Á có thể nhận ra những vấn đề mà người khác dễ bỏ qua, chẳng hạn việc AI dựng sai các đặc điểm khuôn mặt Đông Á, tạo hình ảnh mang tính nhạy cảm về phụ nữ châu Á, hoặc áp đặt những tiêu chuẩn phương Tây không phù hợp với bối cảnh địa phương.

Việc tăng cường tính đa dạng sẽ giúp phát hiện những vấn đề này ngay từ đầu. “Tiếng nói đa dạng trong đội ngũ phát triển thúc đẩy dữ liệu bao quát hơn, kiểm thử công bằng và lựa chọn đạo đức hơn. Đó chính là cách chúng ta tạo ra những hệ thống AI hiệu quả hơn cho tất cả mọi người, thay vì làm trầm trọng thêm bất bình đẳng vốn từng tồn tại”, Tiến sĩ Thủy nói.

Vì sao “ai sử dụng AI?” cũng quan trọng

Khía cạnh còn lại của khoảng cách kép là mức độ tiếp cận AI. Phó giáo sư Catherine Earl, nhà nhân học xã hội đến từ Khoa Truyền thông và Thiết kế RMIT Việt Nam, cảnh báo rằng chênh lệch trong ứng dụng AI có thể dẫn đến chênh lệch cơ hội.

Nếu phụ nữ (đặc biệt là phụ nữ trẻ hoặc không có bằng đại học) sử dụng AI ít hơn, họ có nguy cơ để tuột mất cơ hội nghề nghiệp mới.

Đối với phụ nữ tại các doanh nghiệp, AI có thể làm trầm trọng thêm bất bình đẳng vốn tồn tại lâu nay, chẳng hạn như ít khả năng tiếp cận tài trợ, cơ hội thăng tiến hay các cơ hội phát triển nghề nghiệp khác. Báo cáo về phụ nữ tại nơi làm việc – Women in the Workplace 2025 của McKinsey chỉ ra hàng loạt lĩnh vực mà phụ nữ có thể chịu thiệt thòi so với nam giới, và những rủi ro này hoàn toàn có thể hằn sâu trong các hệ thống AI.

hinh-2-nguon-rmit.jpg Việc có thêm nhiều phụ nữ làm việc trong lĩnh vực AI có thể giúp giảm thiên kiến về giới trong các hệ thống AI. (Hình: RMIT)

Tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, nhiều phụ nữ vẫn gặp hạn chế về khả năng tiếp cận công nghệ số và kỹ năng số, khiến họ càng thiếu tự tin khi sử dụng AI.

Phó giáo sư Catherine Earl cho rằng một phần của vấn đề nằm ở cách xã hội nhìn nhận AI. Thay vì coi AI là lĩnh vực dành riêng cho những người “giỏi công nghệ”, xã hội nên xem đây là kỹ năng cơ bản mà ai cũng cần có.

“Trong quá khứ, khả năng đọc viết hay thư pháp từng là kỹ năng chỉ dành cho một nhóm nhỏ tầng lớp tinh hoa ở Việt Nam và thường không có phụ nữ. Nhưng ngày nay, phụ nữ có trình độ đọc viết ngang bằng nam giới và đây đã trở thành kỹ năng cơ bản. Tương tự, việc sử dụng AI cũng nên được xem là một kỹ năng cơ bản, chứ không phải điều gì ‘mới mẻ’ hay ‘đặc biệt’ mà chỉ một số người mới làm được”, bà nói.

Thu hẹp khoảng cách giới trong kỷ nguyên AI

Phó giáo sư Earl cho rằng nếu trường học và nơi làm việc xem việc sử dụng AI như một kỹ năng bắt buộc cần phổ cập, thì trẻ em gái và trai, phụ nữ và đàn ông đều sẽ tự tin dùng AI trong cuộc sống hằng ngày.

“Thu hẹp khoảng cách phổ cập AI giữa nam và nữ vào thời điểm này nên được xem là nhiệm vụ giáo dục cơ bản. Các lớp học và chương trình phổ cập AI dành cho phụ nữ có thể được triển khai tương tự cách mà trước đây các lớp xóa mù chữ đã giúp cải thiện và cân bằng trình độ đọc viết giữa các giới”, bà nói.

hinh-3-nguon-rmit.jpg Phó giáo sư Catherine Earl, Khoa Truyền thông và Thiết kế, Đại học RMIT Việt Nam (Hình: RMIT)

Tại nơi làm việc, bà cho rằng doanh nghiệp Việt Nam có thể đi đầu trong việc xây dựng chính sách và thực hành thúc đẩy sự hòa nhập AI đối với nhân viên và lãnh đạo nữ. “Việc tài trợ cho nhân viên nữ phát triển sự nghiệp dựa trên kỹ năng AI cơ bản sẽ góp phần tạo sân chơi bình đẳng và giảm nguy cơ phân biệt đối xử về giới tại nơi làm việc”, bà nói.

Trong khi đó, Tiến sĩ Thủy nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đẩy mạnh sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển AI. Giải pháp bao gồm cung cấp chương trình học bổng, cố vấn nghề nghiệp và lộ trình phát triển lãnh đạo nhằm khuyến khích nhiều phụ nữ trẻ bước vào ngành và tiến xa hơn trong sự nghiệp.

Bà cho biết doanh nghiệp có thể giảm thiểu thiên lệch giới do AI bằng cách lồng ghép tư duy bao trùm vào toàn bộ quy trình phát triển – từ việc tuyển dụng và đề bạt nhiều phụ nữ hơn, sử dụng dữ liệu huấn luyện đa dạng, đến thực hiện đánh giá thiên lệch định kỳ trước và sau khi triển khai hệ thống AI.

Chẳng hạn trong tuyển dụng, doanh nghiệp cần chủ động kiểm tra xem AI có đang đối xử bất công với nhóm ứng viên hoặc vai trò cụ thể nào hay không. “AI có trách nhiệm (responsible AI) có thể loại bỏ thiên kiến trong tuyển dụng hoặc thăng tiến bằng cách tập trung hoàn toàn vào kỹ năng và tiềm năng, thay vì tên tuổi, hình ảnh hay những quãng nghỉ trong sự nghiệp ứng viên”, bà nói.

Là một giảng viên AI, Tiến sĩ Thủy tin rằng tiềm năng tích cực của công nghệ này là rất lớn bởi có thể mở rộng AI nhanh chóng với chi phí thấp.

“Một hệ thống AI với thiết kế bao trùm có thể giúp hàng triệu phụ nữ tiếp cận cơ hội tốt hơn, môi trường an toàn và các quyết định công bằng hơn. Cần nhớ rằng, tính bình đẳng trong AI không tự động có mà cần được thiết kế, xây dựng và trau dồi”.

Read Entire Article