Quảng Cáo
0943778078
Tôi lớn lên ở thành phố và chưa từng được học bơi bài bản. Trong nhiều năm, điều đó không phải vấn đề lớn, cho đến khi tôi có con. Mỗi lần đưa con đi biển hay du lịch ở những vùng sông nước, tôi luôn bồn chồn, lo lắng.
Nỗi lo của tôi, may mắn thay, được trường học hỗ trợ. Con tôi được tiếp cận với kỹ năng dưới nước từ rất sớm tại trường tiểu học ở Pháp. Không chỉ học bơi, các con được hướng dẫn cách xử lý khi rơi xuống nước, cách giữ bình tĩnh và chờ cứu hộ. Gần đây, sau khi hoàn thành một chứng chỉ an toàn dưới nước, con không chỉ biết bơi, mà còn nắm được những kiến thức quan trọng về phòng tránh, cũng như tự bảo vệ mình trong các tình huống nguy hiểm.
Tôi có phần yên tâm khi thấy con được dạy hai điều: biết sợ sức mạnh của nước và biết cách không bất lực trước nó.
Tôi trước đây, cũng như nhiều phụ huynh khác, vẫn xem việc con biết bơi như một sự đảm bảo an toàn. Nhưng thực tế, đuối nước ở trẻ không chỉ bắt nguồn từ nguyên nhân "không biết bơi", mà là sự cộng hưởng của nhiều yếu tố: môi trường nước nguy hiểm hiện diện khắp nơi, thiếu giám sát của người lớn, kỹ năng an toàn nước hạn chế và khoảng trống trong giáo dục phòng ngừa.
Mỗi năm, Việt Nam có khoảng 2.000 trẻ tử vong vì đuối nước. Một khảo sát của Trường Đại học Y tế Công cộng cho thấy, chỉ có 30% trẻ em 6-14 tuổi biết bơi, trên 50% trường hợp chết đuối xảy ra ngoài trời khi trẻ tắm ở ao, hồ, sông, suối và tắm biển không có người lớn đi kèm.
Kỹ thuật bơi lội chỉ phát huy tác dụng khi con người làm chủ được tâm lý. Giữa dòng nước xiết hay một xoáy nước bất ngờ, thứ giết chết đứa trẻ trước tiên có thể là sự hoảng loạn. Khi nỗi sợ hãi tột độ kích hoạt bản năng sinh tồn sai lệch, đứa trẻ sẽ vùng vẫy vô vọng, vắt kiệt sức lực trong vài phút ngắn ngủi rồi chìm xuống. Giáo dục an toàn dưới nước trước hết là giáo dục về sự bình tĩnh - dạy trẻ cách kiểm soát nhịp thở và nhịp tim trước khi dạy các em khua tay, đạp chân.
Điểm yếu của việc dạy bơi tự phát trong gia đình hoặc cộng đồng là thường chỉ dừng ở mức "dạy cho biết bơi", trong khi các kỹ năng sinh tồn dưới nước chưa được coi trọng đúng mức. Những kỹ năng như giữ bình tĩnh, thả nổi để tiết kiệm sức, biết kêu cứu hoặc chờ hỗ trợ có thể quan trọng hơn khả năng bơi quãng dài.
Thực tế đau lòng tại Việt Nam cho thấy, rất nhiều vụ đuối nước tập thể xảy ra không phải vì các em không biết bơi, mà vì thấy bạn gặp nạn liền lao xuống cứu theo bản năng. Thiếu kỹ năng sinh tồn, một người biết bơi nghiệp dư rất dễ trở thành nạn nhân tiếp theo khi bị người đang hoảng loạn níu chặt. Dạy trẻ tự cứu mình cũng phải đi đôi với việc dạy trẻ cứu bạn một cách thông minh: dùng sào, ném phao, hô hoán người lớn, thay vì biến mình thành chiếc phao cứu sinh liều mạng.
Chính từ quan sát đó, tôi quan tâm tới chủ trương tăng cường dạy bơi trong trường học ở Việt Nam. Bởi khi được đưa vào chương trình trường học, các em sẽ được đào tạo đầy đủ và bài bản hơn: không chỉ bơi an toàn mà cả kỹ năng sinh tồn trong môi trường nước.
Việc triển khai dạy bơi trên diện rộng không đơn giản, nhất là khi nhiều trường học ở nông thôn còn thiếu cơ sở vật chất.
Tuy nhiên, không nhất thiết "phải có bể mới dạy được bơi". Kỹ năng sinh tồn thiết yếu không thể trở thành môn học xa xỉ mà học sinh nông thôn hay miền núi khó lòng tiếp cận. Đợi đến khi mọi ngôi trường đều có hồ bơi đạt chuẩn, thì đã có thêm bao nhiêu gia đình phải chịu cảnh mất mát? Bản chất của sinh tồn là thích nghi. Trẻ em cần được học cách đối phó với nước ngay tại môi trường các em sinh sống, chứ không phải trong không gian lặng sóng của hồ bơi.
Theo Cục Trẻ em (nay thuộc Bộ Y tế), tai nạn đuối nước ở khu vực nông thôn cao gấp gần bốn lần so với thành thị. Chính môi trường sông nước ở nông thôn, nếu được tổ chức an toàn, lại có thể trở thành nơi dạy kỹ năng sinh tồn tự nhiên nhất cho trẻ. Có thể tận dụng chính kênh mương, ao hồ sẵn có - những nơi được chọn lọc kỹ lưỡng, kết hợp dây phao, người giám sát và giáo viên được huấn luyện.
Các hồ bơi tư nhân - hiện cũng đã phát triển tới tận xã - nên được huy động như một hình thức kết hợp công tư trong giáo dục kỹ năng.
Về nhân lực, chương trình an toàn dưới nước quy mô lớn có thể tạo áp lực ban đầu cho nhà trường. Ngoài việc thêm biên chế, có thể huy động cộng đồng - vận động viên, huấn luyện viên - tham gia hỗ trợ dưới sự điều phối của giáo viên theo các quy định hiện hành. Quan trọng hơn cả là cách tổ chức: lớp nhỏ, nhóm nhỏ để bảo đảm giám sát, thay vì lớp đông dễ bỏ sót rủi ro.
Nếu coi mục tiêu cốt lõi là an toàn cho trẻ em, thì cách tiếp cận cũng cần linh hoạt, thay vì chỉ phụ thuộc vào mô hình hồ bơi chuẩn hay đào tạo kỹ thuật bơi hoàn chỉnh.
Bơi lội là một môn học có thể hoàn thành, chấm điểm và được cấp chứng chỉ, nhưng sinh tồn dưới nước thì không có thang điểm nào khác ngoài ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết.
Võ Nhật Vinh








