Hồi ức của người thư ký về vị Tư lệnh chiến trường Sài Gòn

54 minutes ago 3
Quảng Cáo

0943778078

TPO - Từ Kế hoạch X đến lực lượng Biệt động Sài Gòn, lời kể của PGS.TS Phan Xuân Biên hé lộ những câu chuyện ít người biết về Thiếu tướng Trần Hải Phụng - vị tướng tư lệnh, huyền thoại của chiến tranh đô thị.

Video: Bí mật đằng sau những trận đánh chấn động Sài Gòn qua lời kể của cựu thư ký

Chiều những ngày đầu tháng 8, phóng viên báo Tiền Phong tìm đến nơi làm việc của PGS.TS Phan Xuân Biên, theo một cuộc hẹn đã sắp xếp từ trước. Đón tiếp chúng tôi, cựu thư ký của Thiếu tướng Trần Hải Phụng vui vẻ nhận lời trò chuyện.

tp-br_chatgpt-image-20-56-04-3-thg-8-2026.png PGS.TS Phan Xuân Biên - nguyên Thư ký Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định

Hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ những ngày chiến tranh khốc liệt, khi nhắc đến vị tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định, ánh mắt ông vẫn vẹn nguyên niềm kính trọng. PGS.TS Phan Xuân Biên bắt đầu câu chuyện bằng một nhận định ngắn gọn:

"Cuộc đời của ông Trần Hải Phụng là gắn với phong trào cách mạng của Sài Gòn - Gia Định, rồi TPHCM. Dù quê Hà Tĩnh nhưng chiến trường của ông là Sài Gòn - Gia Định."

Câu nói ấy đủ khái quát gần như toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của vị tướng được nhiều nhà nghiên cứu gọi là "huyền thoại của chiến tranh đô thị".

Trần Hải Phụng - Tướng chiến trường đô thị

Theo lời kể của PGS.TS Phan Xuân Biên, Thiếu tướng Trần Hải Phụng tên thật là Trần Lương, sinh ra tại Hà Tĩnh trong giai đoạn đất nước còn chìm trong ách thống trị của thực dân. Khi còn học tại Quốc học Vinh, nay là Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng, ông đã sớm tham gia phong trào yêu nước. Đó là thời kỳ phong trào cách mạng ở miền Trung phát triển mạnh, nhiều thanh niên rời ghế nhà trường để bước vào con đường đấu tranh. Trần Hải Phụng cũng không ngoại lệ.

tp-br_1785764620092-6134352543466313749-6134352543466313749-f2d4d67470be2c2301ca035f4873b886.jpg Đại hội Chiến sĩ thi đua tại căn cứ Long Nguyên năm 1973. Trong ảnh, Thiếu tướng Trần Hải Phụng đứng thứ 6 từ trái sang; ông Phan Xuân Biên ngồi thứ 4 từ trái sang.
(Ảnh tư liệu)

Sau những năm tháng hoạt động tích cực ở quê nhà, ông vào Nam và từ những ngày đầu sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã gắn bó máu thịt với lực lượng vũ trang Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Sau Hiệp định Genève năm 1954, theo phân công, ông tập kết ra Bắc. Nhưng chỉ vài năm sau, khi chiến trường miền Nam gọi tên và cần những cán bộ dày dạn kinh nghiệm bám trụ địa bàn, Trần Hải Phụng lại xung phong lên đường.

"Năm 1961, ông vượt Trường Sơn vào Nam. Hồi đó chưa có đường Trường Sơn như sau này. Ông đi trong Đoàn Phương Đông, là trưởng đoàn của cán bộ Sài Gòn - Gia Định," ông Biên bồi hồi nhớ lại.

tp-br_tie02805.jpg Người vợ là hậu phương vững chắc, đồng hành cùng Thiếu tướng Trần Hải Phụng trong suốt chặng đường đầy gian khó. (Ảnh: Tư liệu gia đình)

Đến chiến trường khi vừa tròn 36 tuổi, ông lập tức được giao trọng trách tại Quân khu Sài Gòn - Gia Định với cương vị Quyền Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu mới thành lập. Trong suốt chặng đường dài sau đó, từ sự chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đến khi Quân khu được tái lập năm 1972, với tư cách Tư lệnh, và ngay cả sau ngày đất nước thống nhất, cuộc đời ông chưa bao giờ rời xa thành phố mang tên Bác cho đến khi nghỉ hưu.

tp-br_chatgpt-image-21-06-06-3-thg-8-2026.png PGS.TS Phan Xuân Biên nhận định Thiếu tướng Trần Hải Phụng là tư lệnh chiến trường đô thị có một không hai. (Ảnh: Nguyễn Tiến)

Chiến tranh đô thị khác hoàn toàn với chiến tranh rừng núi. Ở chiến khu, lực lượng có thể cơ động đại đội, tiểu đoàn, triển khai đội hình lớn và hỏa lực mạnh. Nhưng giữa lòng Sài Gòn, mọi thứ đều phải đặt ở mức độ bí mật tuyệt đối. Không thể đưa một đơn vị lớn di chuyển nghênh ngang trên phố, không thể đào công sự giữa khu dân cư đông đúc, và càng không thể tập kết hàng trăm tấn vũ khí nếu không có một hệ thống cơ sở cách mạng bám rễ trong lòng địch.

tp-br_tie02815.jpg Bức ảnh kỷ niệm Thiếu tướng Trần Hải Phụng trong thời gian sang Cuba làm việc.
(Ảnh tư liệu)

Chính vì vậy, người chỉ huy chiến trường đô thị không chỉ cần tài thao lược trên bản đồ tác chiến mà còn phải biết xây dựng cơ sở, biết "giữ dân", bảo vệ mạng lưới giao liên và tổ chức lực lượng hoạt động ngầm suốt nhiều năm cho một trận đánh chỉ diễn ra trong vài giờ.

Trong kháng chiến chống Mỹ, Thiếu tướng Trần Hải Phụng là tư lệnh chiến trường đô thị có một không hai. Với bề dày kinh nghiệm thực chiến, năm 1983 ông được cử làm phó đoàn sang cố vấn cho Cuba về nghệ thuật phòng thủ đô thị và vinh dự được nước bạn tặng thưởng huân chương cao quý" - PGS.TS Phan Xuân Biên cho hay.

Từ Kế hoạch X đến mạng lưới cơ sở bí mật

Nhắc đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, người thư ký năm xưa khẳng định những chiến công vang dội của lực lượng Biệt động Sài Gòn không phải là kết quả của những quyết định chớp nhoáng, mà là thành quả của một quá trình chuẩn bị công phu, dưới sự chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Quân khu Sài Gòn - Gia Định, nơi Thiếu tướng Trần Hải Phụng giữ vai trò then chốt.

tp-br_33e34c0a-0636-4b59-b251-bb26d3c2983d.png Ban Chỉ huy Quân sự Tiền phương Sài Gòn - Gia Định (1961 - 1972) (người đứng giữa là Tư lệnh Trần Hải Phụng). (Ảnh: Gia đình cung cấp)

Cuối năm 1964, trước yêu cầu ngặt nghèo của chiến trường, Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định và Bộ Tư lệnh Quân khu đã xây dựng Kế hoạch X. Trong kế hoạch chiến lược này, có hai trụ cột sống còn: Xây dựng lực lượng xung kích; Thành lập đơn vị F100 (Biệt động Sài Gòn) đủ sức đánh vào các cơ quan đầu não của đối phương trong nội đô.

Xây dựng hệ thống bảo đảm chiến đấu: Ra đời hai bộ phận huyền thoại A20 (chuyên vận chuyển vũ khí từ vùng giải phóng vào nội đô) và A30 (xây dựng cơ sở, đào hầm ngầm, cất giấu vũ khí và ém quân).

tp-br_7c90c99e-8e3d-4755-9fd4-4032b5b980cb.png Nơi cất giấu vũ khí chuẩn bị cho trận đánh táo bạo vào Dinh Độc Lập trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. (Ảnh: Nguyễn Tiến)

Việc đưa vũ khí từ vùng căn cứ vào giữa Sài Gòn dưới gọng kìm kiểm soát ngặt nghèo của đối phương là một cuộc đánh cược bằng sinh mạng. Súng đạn không thể đi giữa ban ngày, mà phải hòa nhịp vào cuộc sống thường nhật: giấu dưới những sạp trái cây, ngụy trang trong khoang ghe hai đáy xuôi ngược trên sông nước.

Khó khăn hơn cả là việc duy trì bí mật các căn hầm chứa vũ khí suốt nhiều năm liền. Có những hầm vũ khí được cất giấu 3 năm, thậm chí lâu hơn, ngay dưới sàn nhà của những cơ sở cách mạng trong khi gia đình vẫn sinh hoạt bình thường bên trên. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo ấy, khi lệnh tổng tiến công vang lên, toàn bộ mạng lưới 88 chiến sĩ Biệt động đã bất ngờ đánh thẳng vào Dinh Độc Lập, Đại sứ quán Mỹ, Đài Phát thanh, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Hải quân và sân bay Tân Sơn Nhất.

Phải đánh bằng được Đại sứ quán Mỹ

Theo lời kể của PGS.TS Phan Xuân Biên, trận đánh thể hiện rõ nhất tài thao lược của Thiếu tướng Trần Hải Phụng là cuộc tập kích vào Đại sứ quán Mỹ trong Tết Mậu Thân 1968.

Chỉ còn một tuần trước giờ nổ súng, khi các lực lượng đã ém quân chờ đánh Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh Hải quân..., đồng chí Võ Văn Kiệt bất ngờ đặt vấn đề: "Tại sao Đại sứ quán Mỹ các anh không đánh? Nếu trận này không đánh vào sứ quán Mỹ, coi như chiến dịch Mậu Thân biệt động không tham gia gì cả."

danhtoadaisymy-1968-cropped-1782716091580jpg.jpg Trận tập kích của biệt động Sài Gòn vào Tòa Đại sứ Mỹ ngày 31/1/1968 gây chấn động dư luận Mỹ và thế giới (Ảnh: Tư liệu quốc tế/TTXVN).

Mệnh lệnh được đưa ra trong bối cảnh "mọi thứ đều là con số không": không quân, không tiền, không vũ khí.

Chỉ có sáu ngày chuẩn bị cho trận đánh chiến lược vào Đại sứ quán Mỹ, Thiếu tướng Trần Hải Phụng đã chọn ông Ngô Thanh Vân (Ba Đen) tổ chức đưa vũ khí vào nội đô. Dù không biết chữ, ông Ba Đen vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bí mật vận chuyển toàn bộ vũ khí vào Sài Gòn. Khi mọi việc hoàn tất, ông Võ Văn Kiệt khẳng định đây sẽ là trận đánh giáng đòn mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ.

Việc chuẩn bị hoàn tất trong thời gian ngắn kỷ lục đã góp phần làm nên cuộc tập kích gây chấn động, tạo tiếng vang lớn trong chiến dịch Mậu Thân 1968.

"Ba cùng, ba hóa" và những người lính mang tên giả

Lực lượng Biệt động Sài Gòn có một đặc thù mà không quân chủng nào có được: Không sống trong doanh trại, không mặc quân phục tập trung, không hành quân thành đội hình lớn. Phương châm tối thượng được quán triệt từ tư tưởng của Bộ Tư lệnh Quân khu là: "Lấy lòng dân làm căn cứ".

Để tồn tại ngay dưới mũi súng kẻ thù, các chiến sĩ phải thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc "ba cùng" (cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với nhân dân) và "ba hóa" (địa phương hóa, nghề nghiệp hóa, công khai hóa). Người chiến sĩ mang đủ mọi thân phận ngoài đời thường: từ công nhân, thợ khuân vác, tiểu thương chợ lớn, học sinh, sinh viên cho đến tu sĩ hay phụ nữ bán hàng. Lớp vỏ bọc đời thường ấy chính là lá chắn an toàn nhất giúp họ đứng chân thành công trong lòng địch.

tp-br_tie02819.jpg Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Quân công hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng khác là minh chứng cho những cống hiến của Thiếu tướng Trần Hải Phụng.
(Ảnh: Nguyễn Tiến)

Tuy nhiên, chính tính chất hoạt động tuyệt mật ấy đã để lại một nỗi day dứt lớn lao kéo dài nhiều thập niên sau chiến tranh. Do sử dụng bí danh và giấy tờ giả để hoạt động, nhiều chiến sĩ khi ngã xuống không còn giữ được hồ sơ hay thân nhân xác định. Trong số 88 chiến sĩ tham gia trận đánh Mậu Thân 1968, có tới 61 người anh dũng hy sinh nhưng việc xác minh danh tính để công nhận liệt sĩ gặp vô vàn trắc trở. Nhiều tấm bia tưởng niệm chỉ khắc vội hai chữ "Nguyễn Văn A", "Nguyễn Văn B" vì không ai biết tên thật của các anh.

"Nhờ sự kiên trì của các nhà nghiên cứu lịch sử, vừa qua có thêm 49 liệt sĩ Biệt động được xác định danh tính. Dẫu vậy, niềm vui vẫn chưa trọn vẹn bởi phần lớn các trường hợp hiện không còn tìm được thân nhân để trao bằng Tổ quốc ghi công hay thắp nén hương tưởng niệm" – PGS.TS Phan Xuân Biên ngậm ngùi chia sẻ.

Chân dung đời thường và tình yêu thương lính của vị Tư lệnh

Làm việc sát cánh cùng Thiếu tướng Trần Hải Phụng trong giai đoạn 1970 - 1974, PGS.TS Phan Xuân Biên thấu hiểu sâu sắc áp lực đè nặng lên vai người chỉ huy. Mỗi ngày của vị tư lệnh bắt đầu từ lúc 4 - 5 giờ sáng (sau khi đi ngủ nghiêm ngặt lúc 21 giờ) với việc tổng hợp tin tình báo từ lực lượng H2, đọc báo, điều hành cuộc họp giao ban lúc 6 giờ sáng và chuyển mệnh lệnh qua hệ thống cơ yếu đi khắp các chiến trường.

Giữa bộn bề khói lửa và áp lực căng thẳng, Tư lệnh Hai Phụng vẫn giữ một lối sống liêm khiết, giản dị đến kinh ngạc: ông ăn uống đạm bạc với xôi muối vừng, ăn chuối cả vỏ và tuyệt đối không uống rượu.

tp-br_chatgpt-image-20-58-37-3-thg-8-2026.png PGS.TS Phan Xuân Biên từng có 4 năm làm việc bên Thiếu tướng Trần Hải Phụng (1970 - 1974). (Ảnh: Nguyễn Tiến)

Đặc biệt, ông dành một tình yêu thương sâu sắc cho cấp dưới và những người lính trẻ. Dù công việc quân vụ nhiều, ông từng ân cần nhắc nhở người thư ký trẻ tuổi:

Ở đơn vị có nhiều anh em mới học hết lớp 1 đã đi lính. Chú có bằng cử nhân đại học thì phải hỗ trợ, dạy học cho anh em".

Chính nhờ sự quan tâm đó mà ngay giữa chiến trường khói lửa, những lớp học quân ngũ từ lớp 1 đến lớp 7 vẫn được duy trì đều đặn, bồi dưỡng tri thức cho biết bao chiến sĩ trẻ trước khi bước vào trận đánh lớn.

Câu chuyện về Thiếu tướng Trần Hải Phụng và lực lượng Biệt động Sài Gòn qua lời kể đầy xúc động của PGS.TS Phan Xuân Biên không chỉ tái hiện một giai đoạn hào hùng của lịch sử dân tộc, mà còn là bức tượng đài bất tử về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tình đoàn kết quân dân sắt son.

Read Entire Article