Doanh nghiệp nhu cầu vốn vay lớn
Vừa qua, 3 doanh nghiệp lớn đề xuất vay khoảng 955.000 tỷ đồng cho 17 dự án. Trước đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành cơ chế tín dụng đặc biệt đối với 18 dự án trọng điểm của các doanh nghiệp với tổng nhu cầu vốn huy động hơn 752.000 tỷ đồng. Theo cơ chế này, dư nợ cho vay đối với các dự án sẽ được loại trừ khi tính toán hạn mức tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng tham gia tài trợ vốn.
Như vậy, nếu đề xuất 17 dự án được thông qua, có đến 35 dự án được hỗ trợ với tổng số vốn lên tới hơn 1,7 triệu tỷ đồng (đây là nhu cầu vốn vay của các dự án được nêu trong báo cáo, không phải số vốn các ngân hàng thương mại đã cam kết cho vay hoặc số vốn đã giải ngân - PV).
Ngân hàng khát vốn trong bối cảnh nhu cầu tín dụng cao.
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, đến giữa tháng 6, tổng tiền gửi tại các ngân hàng xấp xỉ 18,2 triệu tỷ đồng, tăng 6,16% so với đầu năm, tương đương khoảng 1 triệu tỷ đồng được bơm vào hệ thống trong nửa năm.
Trong khi đó, tín dụng tăng trưởng 8,37%, lên 20,15 triệu tỷ đồng. Khoảng cách giữa tín dụng và huy động lệch gần 2 triệu tỷ đồng, đẩy tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) toàn hệ thống lên khoảng 110%, mức cao nhất trong 8 năm qua.
Không nên dựa mãi vào vốn ngân hàng
Trao đổi với PV Tiền Phong, PGS, TS. Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện Công nghệ tài chính, Trường Đại học Đại Nam - cho rằng, áp lực lớn nhất hiện nay nằm ở chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động vốn. “Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn, áp lực thanh khoản chính là động lực đẩy lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại tăng cao”, ông Đức nói.
Theo ông Đức, đây là khó khăn lớn của hệ thống ngân hàng khi tốc độ tăng trưởng huy động vốn luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Tín dụng hiện duy trì đà tăng nhanh gấp gần 1,5 lần tốc độ huy động vốn và khoảng cách này khó có thể thu hẹp trong bối cảnh nền kinh tế vẫn đang đặt mục tiêu tăng trưởng cao.
Điều này lý giải vì sao cuộc đua huy động vốn giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt. Khi nhu cầu giải ngân tăng nhanh nhưng tiền gửi không tăng tương ứng, ngân hàng buộc phải tìm cách thu hút thêm tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá hoặc sử dụng các nguồn vốn khác. Hệ quả dễ nhìn thấy nhất là lãi suất huy động chịu sức ép tăng.
"Hệ thống ngân hàng nhiều năm nay vẫn tồn tại tình trạng lệch pha giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Các ngân hàng huy động phần lớn tiền gửi có kỳ hạn tương đối ngắn, trong khi lại phải cung cấp các khoản tín dụng có thời hạn ngày càng dài. Tiền gửi của người dân và doanh nghiệp phần lớn có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi nhu cầu vốn của nền kinh tế lại tập trung vào những lĩnh vực cần vốn dài như bất động sản, hạ tầng, năng lượng, nhà ở và các dự án đầu tư quy mô lớn", ông Đức nói.
Theo ông Đức, nếu nền kinh tế tiếp tục dựa quá nhiều vào ngân hàng, bảng cân đối của các tổ chức tín dụng sẽ ngày càng phình to. Khi một dự án gặp vấn đề về tiến độ, giải phóng mặt bằng, tổng mức đầu tư, doanh thu hoặc khả năng hoàn vốn, rủi ro không chỉ nằm ở chủ đầu tư mà có thể lan sang ngân hàng cấp vốn.
Vì vậy, bài toán vốn cho hạ tầng không nên chỉ được giải bằng cách mở thêm room tín dụng. Các dự án quy mô hàng chục, hàng trăm nghìn tỷ đồng cần một cấu trúc vốn đa dạng hơn, trong đó ngân hàng chỉ nên là một trong những nguồn tài trợ. Vốn chủ sở hữu, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, vốn bảo hiểm, vốn dài hạn của các định chế tài chính và mô hình hợp tác công tư cần được phát triển để chia sẻ gánh nặng.
Để hỗ trợ hoạt động tín dụng ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước kiến nghị Bộ Tài chính phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương giảm tồn ngân ngân quỹ Nhà nước tại hệ thống ngân hàng, qua đó gia tăng lượng tiền lưu chuyển trong nền kinh tế, tạo tiền gửi cho hệ thống tổ chức tín dụng, cải thiện thanh khoản và giảm áp lực lên mặt bằng lãi suất...

1 hour ago
5







