Quảng Cáo
0943778078
Gia đình tôi mấy đời sống ở Hà Nội, có nhiều ký ức với đất bãi sông Hồng. Bà ngoại tôi lúc còn nhỏ vẫn thường chạy lên đê, chỗ phố Chợ Gạo, xem nước sông Hồng lên to.
Thông gia với bên nội tôi, cụ họa sĩ An Sơn là người có bức tranh nổi tiếng "Bến thuyền sông Hồng" mô tả cảnh bán mua nhộn nhịp trên bến dưới thuyền - hiện vẫn lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Tôi ngày bé vẫn từ phố cổ - chân trần, đi xuyên chợ Đồng Xuân - qua đê xuống bãi chân cầu Long Biên đá bóng.
Xét theo lịch sử, người dân đồng bằng Bắc Bộ ít ai ở ngoài đê. Hãn hữu lắm mới có xóm đê của những người cơ nhỡ. Hoặc là nơi địa hình đặc biệt cao ráo thì có những làng cổ, như làng cổ Bát Tràng, cho tiện việc chuyên chở buôn bán hàng gốm sứ.
Hà Nội xưa cũng vậy, bãi sông không ai ở.
Chỉ có một làng rất đặc biệt, là làng Phúc Xá. Làng Phúc Xá vốn không ở ngoài bãi, mà gốc là làng An Xá, mạn núi Nùng (khu vực chùa Một Cột), có đền thờ và chùa An Xá, chỗ điện Kính Thiên ngày nay. Vua Lý Công Uẩn khi dời đô ra Thăng Long đã lấy chỗ đất cao ấy để xây thành, dân làng phải dạt ra sống ven đê, hai bên sông Hồng bằng nghề chài lưới và đưa đò.
Nhà vua thương tình dân làng nhường đất xây kinh đô nên xuống chiếu, miễn các loại thuế. Các đời vua sau cũng tiếp nối lệ ấy.
Lịch sử này được ghi lại trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, đoạn chép các việc đời Lý Nhân Tông, và trong bài minh văn trên chuông chùa An Xá bên phía Bắc Biên Gia Lâm.
Nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc cũng từng nhận định, đây là "làng duy nhất có chứng tích cụ thể là làng được thành lập cùng thời gian Lý Thái Tổ mới dời đô ra Thăng Long".
Lịch sử Phúc Xá cho thấy ngay từ buổi đầu Thăng Long đã tồn tại những cuộc dịch chuyển dân cư để nhường đất cho việc kiến thiết đô thành.
Trước năm 1954, đất bãi sông Hồng vẫn hoang vắng, không ai ở. Các bức ảnh thời ấy chụp cầu Long Biên và suốt dọc đê sông Hồng cho thấy đất bãi mênh mông, không nhà cửa. Ngoại lệ là có ít dân nghèo làm nhà ngoài bãi Phúc Xá để sáng vào phố làm việc, tối về ngủ. Nhà cửa cũng tạm bợ.
Năm 1936-1940, trong phong trào Nhà Ánh Sáng do nhóm Tự Lực Văn Đoàn khởi xướng nhằm hỗ trợ người nghèo, các kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp đã thiết kế nhà rẻ tiền hợp vệ sinh cho người nghèo ở bãi Phúc Xá.
Sau năm 1954, để giải quyết nhanh chỗ ở cho cán bộ về Hà Nội, khu nhà tập thể đầu tiên được xây ngoài đê, gần bến Chương Dương, bằng gỗ hai tầng, gọi là tập thể Bờ sông, đến nay vẫn còn.
Tiếp đó, Hà Nội xây các nhà tập thể ở bãi An Dương, bãi Phúc Xá, rồi "cắm" một số cơ quan ra ngoài bãi, như trường trung cấp xây dựng, trung cấp Y... Đó là những bước đầu tiên hình thành nên quần thể đô thị dày đặc ngoài đê như sau này.
Những năm 1990, đồng đất bãi sông Hồng đã cứu làng nghề trồng quất, trồng đào của Hà Nội. Trước sức ép đô thị hóa, đất quanh Hồ Tây - vốn là cánh đồng trồng đào trồng quất - đã bị cắt ra để xây nhà. Những người nông dân giữ làng nghề đã mang đào quất vượt đê ra ngoài đất bãi. Gặp đất phù sa, cây lên xanh tốt, giữ cho Hà Nội những cánh đồng quất ở bãi Tứ Liên, đào ở bãi Nhật Tân như bây giờ...
Có sự thiếu nhất quán nhất định ở một số giai đoạn trong quản lý đất đai ngoài đê ở Hà Nội. Một mặt theo pháp luật và theo cách hiểu truyền thống, đất bãi là nơi thoát lũ, không được xây dựng kiên cố. Mặt khác, do sức ép dân số, đặc biệt là quận Hoàn Kiếm đất chật người đông, đất bãi sông Hồng ngay cạnh đó, được cho xây dựng, như một giải pháp tạm thời.
Từ những năm 1990 khi trị thủy được sông Đà, nước sông Hồng không còn lên hàng năm, dân số tăng cơ học bùng phát, nhà xây ngoài đê tăng lên chóng mặt. Nhìn từ trên cao, kéo dài từ phía bãi An Dương xuống tít phía Phà Đen, gần cầu Vĩnh Tuy, nhà cao tầng kiên cố mọc lên san sát, không còn thấy bãi sông Hồng, dòng chảy thoát lũ bị thu hẹp.
Như vậy, quá trình hình thành các khu dân cư tự phát ngoài bãi sông Hồng là hệ quả của nhiều thập niên quản lý nửa chặt nửa lỏng: cấm xây kiên cố nhưng vẫn để hình thành khu dân cư; vẫn cấp điện, nước, mở trường học và đưa cơ quan công lập ra ngoài bãi.
Quyết định mới đây nhất của Hà Nội về tái thiết vùng đất ngoài đê sông Hồng nhận được sự quan tâm lớn của người dân. Vì tình yêu chung với Hà Nội, chủ trương này tạo nên hy vọng lớn về hướng phát triển của thủ đô, một lần nữa quay mặt ra sông Hồng, tạo thành trục phát triển mới.
Nhưng về mặt tình cảm, sẽ có băn khoăn lớn khi nghĩ đến số phận của hàng trăm nghìn người dân đang sinh sống ngoài đê. Hàng mấy chục năm, nhiều thế hệ đã sinh ra lớn lên ở đó. Công ăn việc làm đã ổn định, dành tài sản tích cóp xây nên căn nhà. Rồi kỷ niệm, ký ức cộng đồng. Tất cả sẽ thay đổi, phải làm lại từ đầu. Tâm tư nhiều lắm.
Trải qua hơn một thiên niên kỷ, từ cuộc di dân tái thiết dưới thời vua Lý Công Uẩn cho đến sự bùng nổ đô thị hóa sau những năm 1990, vùng đất ngoài đê đã hoàn thành sứ mệnh. Không còn là nơi tạm bợ của những người cơ nhỡ hay những xóm nghèo ven sông, bãi sông Hồng có cơ hội chuyển mình, minh chứng cho sức sống bền bỉ và sự vận động không ngừng của lịch sử Thăng Long - Hà Nội.
Nhưng bên cạnh những kiến trúc hiện đại ngang tầm thế giới, làm sao giữ lại ký ức lịch sử như bia tưởng niệm ở Tứ Liên, An Dương, cánh đồng đào quất ở Tứ Liên, Nhật Tân, những hội làng ven sông; và cả cộng đồng dân cư cổ gắn bó với bãi sông nhiều đời?
Trong cuộc tái thiết này, thành phố không chỉ thay đổi diện mạo đô thị, mà còn phải trả lời câu hỏi khó hơn: làm sao bước tới tương lai mà không bỏ lại những con người đã làm nên lịch sử.
Quan Thế Dân








