Đó không phải là bức ảnh chụp một danh thắng nổi tiếng, cũng chẳng phải khoảnh khắc tại một hội thảo quốc tế hay giảng đường đại học. Trung tâm bức hình là một tô phở còn nghi ngút khói, vài cọng hành lá xanh nổi trên mặt nước dùng trong veo, đôi đũa gỗ đặt ngay ngắn bên thành bát và góc bàn inox đã xước theo năm tháng. Phía dưới là dòng tin nhắn: “Hôm nay chị học được chữ hành lá”.
Tôi nhớ khi nhận được dòng tin nhắn ấy, mình đã mỉm cười rất lâu.
Người gửi bức ảnh là một nữ phó giáo sư đang giảng dạy chữ Nôm tại Đại học Sư phạm Giang Tô, từng bảo vệ luận án tiến sĩ tại Đại học Osaka và dành gần như cả con đường học thuật để nghiên cứu văn hóa Việt Nam.

Tô phở còn nghi ngút khói, vài cọng ngò và hành lá xanh nổi trên mặt nước dùng trong veo...
ẢNH: TGCC
Giữa những công trình nghiên cứu, những văn bản chữ Nôm hàn lâm, niềm vui của chị hôm ấy lại giản dị là học thêm tên một loại rau trên bát phở. Tôi chợt nhận ra, có những người tìm hiểu một nền văn hóa từ giảng đường, thư viện; cũng có người bắt đầu bằng những điều bé nhỏ đến không ngờ.
Từ một tiếng "dạ"
Nếu không có cuộc điện thoại của thầy tôi, PGS-TS Đoàn Lê Giang, vào một buổi chiều nhiều năm trước, có lẽ tôi sẽ không bao giờ biết đến Phác Ái Hoa.
Thầy bảo có một nữ học giả đang tìm hiểu chương trình giảng dạy tiếng Hoa trong các trường phổ thông Việt Nam, muốn tìm giáo trình phục vụ nghiên cứu và nhờ tôi hỗ trợ. Trước khi gác máy, thầy khẽ nói: “Em sẽ quý chị ấy”.
Tối hôm đó, Facebook hiện lên lời mời kết bạn từ Eva Park.
Tôi mở trang cá nhân của chị. Không phải những hội nghị quốc tế hay bằng khen học thuật như tôi vẫn hình dung về một nhà nghiên cứu nước ngoài, mà là những góc rất nhỏ của Việt Nam: Nhà thờ Tân Định dưới nắng sớm, một gánh hàng rong bên vỉa hè, ly cà phê sữa đá trên chiếc bàn gỗ cũ, những con hẻm Sài Gòn loang nắng sau mưa.
Có cảm giác chị không đi tìm những điều lộng lẫy nhất của thành phố này, chỉ lặng lẽ tìm những điều bình thường nhất.
Tin nhắn đầu tiên của chị hiện lên:
“Dạ em. Chị là Ái Hoa. Chị cảm ơn em đã nhận lời giúp chị”.
Tôi đọc rất chậm, rồi đọc lại lần nữa.
Điều khiến tôi dừng lại là tiếng “dạ” ở đầu câu. Chỉ một âm tiết ngắn ngủi, vậy mà dưới bàn tay của người không sinh ra trên mảnh đất này, nó bỗng trở nên dịu dàng lạ lùng.
Là người Việt Nam, tôi vẫn nghĩ mình am tường tiếng Việt. Vậy mà lúc ấy, tôi chợt tự hỏi đã bao lâu rồi mình không còn để ý đến tiếng “dạ” vẫn nói mỗi ngày, không nhận ra trong âm thanh nhỏ bé ấy là cả một nếp văn hóa, nơi sự kính trọng đặt trước lời nói.
Những ngày sau đó, từ chuyện giáo trình, tài liệu, chúng tôi dần trò chuyện nhiều hơn. Chị kể về những lần đến TP.HCM học tiếng Việt tại Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn, về những buổi chiều tan học không vội trở về mà cứ đi bộ đến khi nắng tắt.
Chị bảo mình thích đi bộ vì chỉ khi bước thật chậm mới nghe được tiếng Việt đang sống. Đó là tiếng rao của người bán bánh mì, tiếng cô bán nước hỏi khách có dùng thêm đá không, tiếng trẻ tan học, tiếng một bà mẹ dỗ con; và cả những tiếng “dạ”, “cảm ơn”, “xin lỗi” vang lên tự nhiên giữa những người xa lạ.
Có lẽ từ những cuộc trò chuyện ấy, tôi bắt đầu nhìn lại tiếng mẹ đẻ bằng một ánh mắt khác.
Học chữ để hiểu người
Là nghiên cứu sinh ngành văn học, tôi dành nhiều thời gian đọc chữ Nôm, thơ trung đại và những công trình về lịch sử văn học Việt Nam. Tôi từng nghĩ mình đã đi sâu vào thế giới của những con chữ.
Nhưng càng trò chuyện với Ái Hoa, tôi càng nhận ra giữa “biết” và “yêu” đôi khi vẫn có một khoảng cách. Ta có thể phân tích một áng văn bằng hàng chục trang giấy, nhưng chưa chắc đã lắng nghe tiếng Việt đang sống trong đời thường.
Một buổi tối, chị gửi tôi đoạn ghi âm chưa đầy một phút. Không nhạc, chỉ có âm thanh của một con hẻm Sài Gòn: tiếng chén đũa, tiếng xe bán bắp xào leng keng, tiếng người mẹ gọi con: “Về ăn cơm đi con!”, rồi giọng bà cụ bán nước: “Dạ, cảm ơn con nghen”.
Chị nhắn:
“Hôm nay chị không chụp ảnh. Chị muốn mang tiếng Việt về”.

Ái Hoa trong Hội thảo quốc tế nghiên cứu và giảng dạy tiếng Trung trong thời đại số
ẢNH: TGCC
Hành trình đến với chữ Nôm của chị bắt đầu từ sự tò mò. Trong lần đọc tư liệu về văn học Đông Á, chị bắt gặp những ký tự lạ, rồi tìm đến Đại học Osaka, dành nhiều năm đọc văn bản cổ, lần theo lịch sử ngôn ngữ Việt Nam.
Có những ngày, chỉ vì một chữ chưa xác định được cách đọc mà chị gần như thức trắng. Chị bảo, nghiên cứu giống như lần theo một ngọn đèn nhỏ giữa đêm dài: đi chậm, đôi khi cô độc, nhưng chỉ cần thấy một tia sáng cũng đủ bước tiếp.
Tôi hỏi điều gì khiến chị không bỏ cuộc. Chị im lặng vài giây rồi nói:
“Vì chị thấy việc học tiếng Việt không chỉ đơn thuần là học chữ mà còn có cả một nền văn hóa”.
Câu nói ấy theo tôi rất lâu.
Tôi nhớ đến Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu và bao thế hệ tiền nhân đã gửi vui buồn vào từng nét chữ Nôm. Hóa ra điều chị đi tìm không chỉ là một hệ thống văn tự cổ, mà còn là những con người từng sống, yêu, đau và hy vọng trên mảnh đất này.
Sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ, chị vẫn trở lại Việt Nam, học tiếng Việt cùng những sinh viên trẻ hơn mình, rồi thong thả đi qua những con hẻm Sài Gòn.
Chị hiểu rằng muốn đọc được quá khứ, trước hết phải biết lắng nghe đời sống hôm nay.
Món quà đẹp nhất...
Một ngày, trong lúc sắp xếp tài liệu cũ, tôi tình cờ mở lại khung trò chuyện với chị. Xen giữa những tập tin giáo trình, bài báo khoa học và những cuộc trao đổi về chữ Nôm vẫn còn những bức ảnh chị từng gửi.
Nhà thờ Tân Định trong nắng sớm. Chiếc xe hủ tiếu nép dưới tán me. Chồng sách cũ trên kệ gỗ. Con hẻm loang nắng với những chậu hoa giấy. Và rồi bức ảnh tô phở gà ngày nào lại hiện ra.
Nước dùng vẫn trong veo. Mấy cọng hành lá vẫn xanh non. Dòng chữ phía dưới vẫn nguyên vẹn: “Hôm nay chị học được chữ hành lá”.
Tôi bỗng mỉm cười.
Ngày ấy, tôi mỉm cười vì thấy một người vui chỉ vì học thêm được hai tiếng bình thường. Còn bây giờ, tôi hiểu chị không chỉ học tên một loại rau, mà đang học cách gọi tên một phần nhỏ của đời sống Việt Nam bằng sự trân trọng.
Tôi nhớ câu chị từng nói: “Muốn hiểu chữ Nôm thì phải hiểu người Việt hôm nay”.
Khi ấy, tôi chỉ nghĩ đó là suy tư của một nhà nghiên cứu. Bây giờ, tôi hiểu trong đó còn có một tình yêu rất lặng lẽ: muốn hiểu một dân tộc, trước hết phải dành cho dân tộc ấy sự kính trọng.
Ông bà nội ngoại chị đều là người Hàn Quốc. Chị sinh ra ở Trung Quốc, học tập và nghiên cứu tại Nhật Bản, rồi nhiều lần trở lại Việt Nam. Giữa những miền đất đã đi qua, chị vẫn kiên trì học tiếng Việt, đi qua những con hẻm để nghe một tiếng “dạ”, tìm đến những hiệu sách cũ để nâng niu từng trang giấy.
Tôi vẫn nghĩ, con người có thể chọn nơi mình học tập, nơi làm việc, nhưng chẳng phải ai cũng có thể chọn một ngôn ngữ để yêu. Chị đã chọn tiếng Việt theo cách giản dị và bền bỉ ấy.
Sau cuộc gặp gỡ chưa một lần đối diện trực tiếp, tôi vẫn tiếp tục dạy tiếng Việt và nghiên cứu văn học. Chỉ khác một điều, mỗi khi nghe một tiếng “dạ” hay lần giở một văn bản chữ Nôm đã ngả màu thời gian, tôi lại nhớ đến Phác Ái Hoa.
Bằng tình yêu của mình, chị giúp tôi nhận ra vẻ đẹp của tiếng mẹ đẻ ngay trên mảnh đất mà tôi từng nghĩ mình đã hiểu từ rất lâu.
Có lẽ, đó là món quà đẹp nhất mà một người bạn chưa từng gặp mặt đã trao cho tôi.
Mời tham gia cuộc thi Sống đẹp lần VI, với tổng giải thưởng 400 triệu đồng
Bước sang mùa thứ VI với chủ đề Hành trình không giới hạn, cuộc thi Sống đẹp do Báo Thanh Niên tổ chức tiếp tục mở rộng phạm vi tìm kiếm và tôn vinh những giá trị tốt đẹp trong đời sống hằng ngày. Cuộc thi bao gồm hạng mục Bài viết (ký sự, phóng sự, ghi chép) cùng hạng mục Ảnh với tổng giá trị giải thưởng là 400 triệu đồng.
Bài dự thi gửi về địa chỉ email: songdep@thanhnien.vn, hoặc gửi bằng đường bưu điện về Tòa soạn Báo Thanh Niên: 268 - 270 Nguyễn Đình Chiểu, P.Xuân Hòa, TP.HCM (ngoài bì thư ghi rõ: Bài viết tham dự cuộc thi SỐNG ĐẸP lần VI - 2026. Lưu ý chỉ áp dụng cho hạng mục dự thi Bài viết).
Thời hạn gửi tác phẩm dự thi: đến hết ngày 31.10.2026.
Xem chi tiết thể lệ cuộc thi tại thanhnien.vn


48 minutes ago
3






