Warning: session_start(): open(/home/obslnetp/public_html/src/var/sessions/sess_faa223a1e1e11e74de3640b27d1067d9, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/obslnetp/public_html/src/bootstrap.php on line 59

Warning: session_start(): Failed to read session data: files (path: /home/obslnetp/public_html/src/var/sessions) in /home/obslnetp/public_html/src/bootstrap.php on line 59
Nhìn nhận khách quan, toàn diện về nền giáo dục - Tin Tức Cập Nhật Nhanh

Nhìn nhận khách quan, toàn diện về nền giáo dục

22 hours ago 3
Quảng Cáo

0943778078

Gần đây, xuất hiện không ít ý kiến ca ngợi giáo dục miền Nam Việt Nam trước năm 1975 như một "mô hình ưu việt"; từ đó so sánh phiến diện với nền giáo dục hiện nay, thậm chí đi xa hơn là phủ nhận, công kích vai trò lãnh đạo của Đảng ta trong sự nghiệp giáo dục và phát triển đất nước.

Đơn giản hóa, thiếu cơ sở

Những nhận định nêu trên nếu không được nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện và đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể thì rất dễ dẫn đến ngộ nhận, sai lệch về bản chất của hai nền giáo dục, cũng như về con đường phát triển của Việt Nam.

Trước hết, không thể phủ nhận rằng giáo dục ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975 có một số điểm đáng chú ý như: tiếp cận sớm với một số phương pháp giáo dục phương Tây, hệ thống trường tư thục tương đối đa dạng, hay sự hiện diện của các chương trình học chịu ảnh hưởng từ Mỹ và Pháp... Tuy nhiên, nếu dựa vào những yếu tố ấy để khẳng định đây là một nền giáo dục "ưu việt" là một cách nhìn đơn giản hóa và thiếu cơ sở.

Giáo dục miền Nam thời kỳ này tồn tại trong bối cảnh đất nước ta bị chia cắt, chiến tranh khốc liệt, phụ thuộc sâu sắc vào viện trợ nước ngoài, đặc biệt là từ Mỹ. Vì vậy, mục tiêu và nội dung giáo dục không thể tách rời khỏi chiến lược chính trị - quân sự của chính quyền Sài Gòn và các thế lực hậu thuẫn. Một nền giáo dục bị chi phối bởi ngoại lực, phục vụ mục tiêu ý thức hệ và chiến tranh thì khó có thể được xem là toàn diện và độc lập.

Bởi lẽ, nếu nhìn nhận một cách toàn diện, giáo dục miền Nam trước năm 1975 bộc lộ nhiều hạn chế rõ rệt. Thứ nhất, tính bất bình đẳng cao. Hệ thống giáo dục khi đó mang tính phân tầng rõ rệt. Con em gia đình khá giả, tầng lớp trung lưu và thượng lưu ở đô thị có điều kiện tiếp cận giáo dục tốt hơn; trong khi đại bộ phận người dân, đặc biệt là ở nông thôn, vùng sâu vùng xa, gặp rất nhiều khó khăn trong việc đến trường. Tỉ lệ mù chữ vẫn còn cao, cơ hội học tập không được phân bổ công bằng.

Thứ hai, sự lệ thuộc vào nước ngoài. Nội dung chương trình, sách giáo khoa và phương pháp giảng dạy chịu ảnh hưởng lớn từ các mô hình phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Điều này dẫn đến sự thiếu gắn kết với thực tiễn văn hóa, lịch sử và nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam.

Thứ ba, thiếu định hướng phục vụ cộng đồng. Một trong những điểm cốt lõi của giáo dục là đào tạo con người không chỉ có tri thức mà còn có trách nhiệm xã hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh chiến tranh và xã hội phân hóa, giáo dục miền Nam chưa tạo được một hệ giá trị chung mang tính nhân văn, đoàn kết và hướng đến lợi ích quốc gia - dân tộc.

Thứ tư, bị chi phối bởi chiến tranh. Chiến tranh kéo dài khiến hệ thống giáo dục bị gián đoạn, cơ sở vật chất bị tàn phá, nhiều học sinh, sinh viên bị cuốn vào vòng xoáy chiến sự, đội ngũ giáo viên thiếu ổn định và trình độ, năng lực không được bảo đảm.

Nhìn nhận khách quan, toàn diện về nền giáo dục - Ảnh 1.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung nhiều nguồn lực đầu tư, phát triển giáo dục. Ảnh: ĐẶNG TRINH

Cần có cách tiếp cận khoa học, khách quan

Cần nhìn nhận rằng sau năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nền giáo dục nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, mang tính nền tảng và lâu dài.

Trước hết là việc phổ cập giáo dục và xóa mù chữ. Từ một đất nước có tỉ lệ mù chữ cao, Việt Nam đã đạt được những bước tiến vượt bậc trong việc phổ cập giáo dục tiểu học, THCS, tiến tới phổ cập THPT ở nhiều địa phương. Đây là thành tựu có ý nghĩa xã hội sâu sắc, thể hiện tính ưu việt của một nền giáo dục hướng đến đại đa số nhân dân.

Đồng thời, bảo đảm tính công bằng trong tiếp cận giáo dục. Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ học sinh vùng khó khăn, dân tộc thiểu số, con em gia đình chính sách, tạo điều kiện để mọi người đều có cơ hội học tập. So với trước năm 1975, khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền đã được thu hẹp đáng kể.

Bên cạnh đó, gắn giáo dục với phát triển đất nước. Giáo dục không chỉ nhằm truyền đạt kiến thức mà còn phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng con người mới. Nhiều thế hệ học sinh, sinh viên đã trưởng thành, đóng góp vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Ngoài ra, hội nhập quốc tế nhưng vẫn giữ vững bản sắc dân tộc. Việt Nam đã chủ động tiếp thu tinh hoa giáo dục thế giới, đồng thời giữ vững định hướng XHCN, đề cao các giá trị văn hóa, lịch sử dân tộc.

Việc so sánh giữa hai nền giáo dục là cần thiết để rút ra bài học kinh nghiệm. Tuy nhiên, sự so sánh cần phải đặt trong cùng hệ quy chiếu, với các thông số tương đồng nhau. Nếu sự so sánh bị sử dụng như một công cụ để công kích, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng thì đó không còn là một hoạt động học thuật khách quan.

Cần nhấn mạnh rằng mọi nền giáo dục đều có ưu điểm và hạn chế, và giáo dục Việt Nam hiện nay cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tuy nhiên, khi nhìn nhận hạn chế phải đi đôi với việc ghi nhận thành tựu và nỗ lực cải cách. Không thể vì một số tồn tại mà phủ nhận toàn bộ vai trò lãnh đạo của Đảng - yếu tố đã bảo đảm định hướng phát triển ổn định, bền vững cho đất nước.

Do đó, thay vì sa vào những tranh luận mang tính đối đầu, mọi người cần có cách tiếp cận khoa học, khách quan và mang tính xây dựng đối với vấn đề giáo dục. Đó là phải đánh giá đúng lịch sử, không tô hồng cũng không phủ định sạch trơn; tiếp thu có chọn lọc những giá trị tích cực từ các mô hình giáo dục khác nhau; tập trung cải cách giáo dục hiện nay, nâng cao chất lượng dạy và học, đổi mới phương pháp, phát triển tư duy sáng tạo…

Đặc biệt, cần giữ vững định hướng phát triển, trong đó vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố bảo đảm sự ổn định và nhất quán. 

Một số luận điệu thường thấy là giáo dục miền Nam trước năm 1975 "tự do hơn", "chất lượng cao hơn"…, từ đó suy diễn rằng sự lãnh đạo của Đảng là nguyên nhân khiến giáo dục hiện nay gặp khó khăn.

Những lập luận này bỏ qua nhiều yếu tố quan trọng như: bối cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế - xã hội, cũng như những thành tựu đã đạt được. Về mặt phương pháp, sự suy diễn từ điểm thành diện là một sai lầm khoa học.

Read Entire Article