Quảng Cáo
0943778078
35 năm giữ biểu tượng thành công của Đổi mới, Khu chế xuất Tân Thuận bước vào cuộc chuyển đổi lần hai, cùng thành phố tìm kiếm mô hình tăng trưởng mới.
Năm 1991, khi kinh tế Việt Nam còn dè dặt với mô hình thị trường, TP HCM chọn Tân Thuận như một phép thử táo bạo. Thành phố hợp tác với nhà đầu tư Đài Loan xây dựng khu chế xuất theo mô hình mới với hạ tầng đồng bộ, sản xuất hướng xuất khẩu, thủ tục "một cửa", thu hút FDI.
Từ Tân Thuận, TP HCM tiếp tục phát triển Linh Trung, Tân Bình rồi hàng loạt khu công nghiệp trải dài khắp Đông Nam Bộ. Hàng chục nghìn lao động đổ về, đưa thành phố trở thành trung tâm sản xuất, xuất khẩu lớn nhất cả nước suốt nhiều năm.
"Khu chế xuất Tân Thuận từng là biểu tượng của tinh thần dám nghĩ, dám làm của TP HCM", PGS.TS Trần Hoàng Ngân, Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng tư vấn đột phá phát triển Trường Đại học Sài Gòn, nhận xét.
Trong cấu trúc siêu đô thị sau hợp nhất, khu vực TP HCM cũ được định hướng là trung tâm tài chính, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Bình Dương giữ vai trò sản xuất công nghiệp quy mô lớn; còn Bà Rịa - Vũng Tàu là trung tâm logistics, cảng biển và kinh tế biển. Điều này khiến các khu công nghiệp nội đô khó tiếp tục vận hành theo mô hình cũ.
Những năm gần đây, Tân Thuận đã bắt đầu chuyển dịch. Khu chế xuất hiện có hơn 250 dự án hoạt động, hơn 70% là doanh nghiệp nước ngoài. Thay vì lấp đầy nhanh, Tân Thuận chủ động chọn lọc nhà đầu tư để nâng hàm lượng công nghệ, với các doanh nghiệp như Renesas, VNG. Nơi đây không còn chỉ là trung tâm gia công mà dần trở thành điểm tập trung công nghệ cao.
Khu chế xuất Tân Thuận, TP HCM. Ảnh: Quỳnh Trần
Tuy nhiên, khu chế xuất đầu tiên của Việt Nam đang đối mặt nghịch lý lớn. Thời hạn hoạt động của Tân Thuận kết thúc vào năm 2041, tức chỉ còn khoảng 15 năm vận hành thực tế. Điều này khiến nhiều nhà đầu tư e ngại khi cân nhắc dự án công nghệ cao hoặc nghiên cứu dài hạn.
Thế lưỡng nan của đầu tàu kinh tế
Không chỉ nhà đầu tư, TP HCM cũng nhìn thấy nhu cầu chuyển đổi Khu chế xuất Tân Thuận. Năm 2023, UBND TP HCM ban hành quyết định định hướng phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp giai đoạn 2023-2030, tầm nhìn 2045. Trong đó, Tân Thuận cùng bốn khu công nghiệp Tân Bình, Cát Lái, Hiệp Phước và Bình Chiểu được nghiên cứu chuyển đổi mô hình.
Theo Ban Quản lý các khu chế xuất, công nghiệp TP HCM (Hepza), nếu chậm chuyển đổi, thành phố có nguy cơ mất lợi thế cạnh tranh trong thu hút FDI chất lượng cao. Các tập đoàn quốc tế hiện không còn chỉ quan tâm ưu đãi thuế hay giá thuê đất mà ưu tiên khu công nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn ESG, phát triển xanh và có hạ tầng số hiện đại.
"Không có các khu công nghiệp xanh, sinh thái và công nghệ cao, TP HCM sẽ rất khó thu hút dự án bán dẫn, chip, công nghệ sinh học hay năng lượng tái tạo", bà Nguyễn Võ Minh Thư, Phó ban Hepza, nói.
Theo lộ trình, Tân Thuận sẽ trở thành khu công nghệ cao gắn với nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và giáo dục đào tạo. Tuy nhiên đến nay, việc chuyển đổi năm khu công nghiệp, chế xuất này vẫn chưa được phê duyệt.
Bà Thư cho biết tiến độ chậm do nhiều nguyên nhân. Phần lớn doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, chế xuất đã được cấp quyền sử dụng đất và giấy chứng nhận đầu tư tới 50 năm. Thành phố không thể buộc doanh nghiệp di dời hoặc thay đổi công nghệ nếu họ không vi phạm pháp luật. Nếu thu hồi đất để tái cấu trúc, chi phí bồi thường và hỗ trợ ngừng sản xuất sẽ rất lớn.
Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp muốn đổi mới công nghệ nhưng thiếu nguồn lực đầu tư, trong khi chính sách hỗ trợ chưa đủ mạnh để bao phủ toàn bộ doanh nghiệp trong khu công nghiệp.
Điều đó khiến TP HCM rơi vào thế lưỡng nan: muốn chuyển sang nền kinh tế giá trị cao nhưng vẫn bị níu bởi cấu trúc tăng trưởng cũ.
Các động lực mới cho siêu đô thị
Sau hợp nhất, TP HCM không chỉ mở rộng về diện tích và dân số mà lần đầu tiên sở hữu đồng thời ba lợi thế lớn: công nghiệp của Bình Dương; cảng biển, logistics của Bà Rịa - Vũng Tàu; cùng trung tâm tài chính, công nghệ và dịch vụ của TP HCM cũ.
Trung ương dự kiến trao cho thành phố nghị quyết mới để phát triển, Luật Đô thị đặc biệt, cơ chế phân cấp mạnh hơn cùng nhiều dự án hạ tầng liên vùng quy mô lớn.
Cụm cảng Cái Mép - Thị Vải nhìn từ phía hạ lưu. Ảnh: Trường Hà
PGS.TS Trần Hoàng Ngân cho rằng sau hợp nhất, TP HCM giống như "một cơ thể mới", "một cỗ xe mới" với nhiều động lực tăng trưởng hơn trước.
Theo ông, động lực lớn nhất là công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp xanh. Khu vực này dự kiến đóng góp khoảng 33-35% GRDP, tập trung ở các khu công nghiệp Bình Dương, TP Thủ Đức và công nghiệp năng lượng tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Toàn bộ hệ thống sẽ được tái cấu trúc theo hướng thông minh, xanh, tuần hoàn, số hóa và công nghệ cao.
"Đây là động lực lớn nhất hiện nay", ông nói, đồng thời cho rằng thu hút FDI thời gian tới sẽ dựa nhiều vào tiêu chí xanh, số hóa và đổi mới sáng tạo.
Động lực thứ hai là kinh tế biển và logistics. Với hệ thống cảng Cái Mép - Thị Vải, cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, sân bay Long Thành và mạng lưới logistics liên vùng, TP HCM có dư địa lớn để phát triển trung tâm kho vận, cảng biển và thương mại tự do. Lĩnh vực này được kỳ vọng đóng góp khoảng 10% GRDP.
Theo ông Ngân, thành phố đang định hình các tuyến kết nối mới như đường sắt từ Bàu Bàng qua Thủ Đức xuống Bà Rịa - Vũng Tàu nhằm vận chuyển hàng hóa nhanh hơn, giảm chi phí logistics và kết nối trực tiếp khu sản xuất với cảng biển.
Động lực tiếp theo là thương mại - dịch vụ - du lịch và công nghiệp văn hóa. Hiện lĩnh vực này đóng góp khoảng 15% GRDP nhưng còn nhiều dư địa khi các tuyến vành đai, cao tốc và hạ tầng liên vùng hoàn thiện.
Ngoài ba trụ cột trên, TP HCM còn tiềm năng lớn ở trung tâm tài chính quốc tế, y tế chất lượng cao, giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ.
Trong đó, trung tâm tài chính quốc tế tại Thủ Thiêm được kỳ vọng trở thành động lực mới khi Việt Nam tái cấu trúc thị trường vốn và nâng hạng thị trường chứng khoán.
Theo ông Ngân, thành phố cũng có cơ hội trở thành trung tâm y tế và chăm sóc sức khỏe của Đông Nam Á với quy mô phục vụ khoảng 40-50 triệu dân, kết hợp mô hình "du lịch chữa bệnh". Giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng còn nhiều dư địa nếu được đầu tư đúng hướng.
Điểm nghẽn ở khâu thực thi
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Đinh Hồng Kỳ, Chủ tịch Hiệp hội Xây dựng và Vật liệu xây dựng TP HCM, cho rằng điều cộng đồng doanh nghiệp lo ngại nhất hiện nay không còn là thiếu cơ chế mà là "cơ chế có rồi nhưng chuyển hóa thành giá trị quá chậm".
Theo ông, sau hơn một thập niên tăng trưởng chững lại, TP HCM buộc phải thay đổi mô hình phát triển nếu muốn lấy lại vai trò đầu tàu kinh tế.
"TP HCM không thiếu doanh nghiệp giỏi, không thiếu nhà đầu tư lớn, cũng không thiếu dòng vốn muốn vào. Cái còn thiếu là ai được quyết, quyết trong bao lâu và ai chịu trách nhiệm nếu chậm trễ", ông nói.
Ông cho rằng điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khâu thực thi. Nhiều dự án không thiếu vốn, doanh nghiệp cũng đủ năng lực nhưng triển khai kéo dài vì thủ tục chồng chéo, phối hợp thủ công giữa các sở ngành và tâm lý sợ trách nhiệm.
"Nếu cán bộ còn sợ sai, sợ ký, không dám quyết thì rất khó tạo đột phá, dù có thêm nhiều cơ chế mới", ông Kỳ nói.
Khu vực trung tâm TP HCM. Ảnh: Quỳnh Trần
TS Huỳnh Thế Du, Giảng viên Chính sách công tại Đại học Fulbright Việt Nam, khi góp ý xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, cho rằng vấn đề của TP HCM không chỉ nằm ở hạ tầng hay thể chế.
Theo ông, khoảng một thập niên qua, TP HCM không thiếu cơ chế đặc thù nhưng các chính sách chưa tạo động lực tăng trưởng rõ rệt, thậm chí vai trò và đóng góp của thành phố có xu hướng giảm.
Ông dẫn số liệu cho thấy năm 2001, vùng Đông Nam Bộ chiếm 37,6% GDP cả nước, hiện còn 31,1%; trong khi vùng Đồng bằng sông Hồng từ khoảng 25% đã vươn lên dẫn đầu. Cách đây 20-25 năm, khu vực TP HCM gồm Bà Rịa - Vũng Tàu và Bình Dương cũ đóng góp khoảng 50% thu ngân sách cả nước, nay còn khoảng một phần ba.
Xu hướng này cũng thể hiện qua các giai đoạn áp dụng cơ chế đặc thù. Khi ban hành Nghị quyết 54 năm 2017, vùng TP HCM chiếm khoảng 27% GDP cả nước; sau 5-6 năm triển khai giảm còn 24,5% và đến năm 2020 còn 23,1%.
"Luật Đô thị đặc biệt hay việc nới khung thể chế chỉ là điều kiện cần. Vấn đề là cách làm và vận hành thực tế của bộ máy", ông nói. Theo chuyên gia, điểm mấu chốt nằm ở "thể chế phi chính thức", tức cách hệ thống thực sự vận hành, từ phối hợp giữa các cơ quan đến tinh thần dám làm của đội ngũ thực thi.
Lê Tuyết








