Từ những cộng đồng yêu văn hóa Việt đến chủ quyền văn hóa

2 hours ago 6
Quảng Cáo

0943778078

Trong số 4 nhiệm vụ trọng tâm để thực hiện Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa VN, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc đến nhiệm vụ đẩy mạnh xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số, nâng cao sức hấp dẫn, khả năng lan tỏa và bảo vệ các giá trị văn hóa VN.

Điều may mắn là chúng ta luôn có, đang có nhiều cộng đồng yêu văn hóa VN để cùng xây dựng chủ quyền văn hóa này.

Từ những cộng đồng yêu văn hóa Việt đến chủ quyền văn hóa- Ảnh 1.

Hình ảnh nghi thức rước nước từ giếng cổ về đình ở Hà Nội được chia sẻ trên không gian mạng giúp công chúng hiểu hơn về truyền thống

Ảnh: Lê Bích

Kiến tạo hệ sinh thái văn hóa số với các giá trị VN

Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo T.Ư về phát triển văn hóa VN ngày 13.7.2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh việc xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng nhấn mạnh không gian số phải trở thành nơi văn hóa VN "được nhận biết, được yêu thích, được lan tỏa", đồng thời có khả năng định hướng giá trị xã hội. Điều đó đặt ra yêu cầu phải chuyển từ tư duy "đưa văn hóa lên mạng" sang tư duy "tổ chức đời sống văn hóa trên mạng".

Trước hết cần nhận thức rằng xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số không đơn thuần là số hóa thật nhiều tài liệu hay đưa những gì đang có lên mạng. Đó phải là quá trình kiến tạo một hệ sinh thái văn hóa số, trong đó các giá trị VN được lưu giữ một cách khoa học, được kể lại hấp dẫn, được phân phối rộng rãi và có khả năng tham gia hình thành thị hiếu, lối sống, nhân cách con người.

Theo hướng đó, chúng ta cần một nền tảng dữ liệu văn hóa quốc gia đóng vai trò như "hạ tầng gốc", kết nối thư viện, bảo tàng, di tích, cơ sở nghiên cứu, cơ quan lưu trữ, nghệ nhân và cộng đồng sáng tạo. Trên nền tảng ấy phải phát triển nhiều kênh tiếp cận khác nhau: thư viện số dành cho nghiên cứu; bảo tàng ảo, bản đồ di sản và công nghệ thực tế ảo dành cho trải nghiệm; video ngắn, podcast, hoạt hình, âm nhạc dành cho truyền thông đại chúng; trò chơi, cuộc thi sáng tạo và các chương trình tương tác dành cho thanh thiếu niên.

Muốn hấp dẫn công chúng, đặc biệt là công chúng trẻ, chúng ta phải kể câu chuyện văn hóa bằng ngôn ngữ của thời đại, nhưng không làm nghèo đi chiều sâu của văn hóa. Có thể dùng video ngắn để tạo sự chú ý, nhưng cần dẫn người xem tới những nội dung sâu hơn. Có thể trò chơi hóa việc tìm hiểu di sản, nhưng phần thưởng lớn nhất phải là cảm giác khám phá và niềm tự hào. Có thể sử dụng người nổi tiếng, nghệ sĩ và nhà sáng tạo nội dung, nhưng nội dung phải có nguồn gốc rõ ràng và được kiểm chứng.

Nói cách khác, công thức quan trọng là: nội dung đúng, hình thức đẹp, trải nghiệm hấp dẫn và công chúng được tham gia sáng tạo.

Những nhóm yêu văn hóa Việt là một dạng "hạ tầng" văn hóa số

Những nhóm yêu văn hóa truyền thống như Đình làng Việt, Chùa Việt cùng nhiều cộng đồng yêu âm nhạc truyền thống, cổ phục, thư pháp, mỹ thuật, lịch sử hay di sản địa phương chính là những "tế bào văn hóa" tự nguyện trong xã hội. Có thể xem đó là một dạng hạ tầng văn hóa cộng đồng trên không gian số.

Từ những cộng đồng yêu văn hóa Việt đến chủ quyền văn hóa- Ảnh 2.

Những câu chuyện về làng Việt, trong đó có làng sơn mài Hạ Thái được cộng đồng mạng quan tâm

Ảnh: Lê Bích

Điểm mạnh của những nhóm này là sự đam mê, am hiểu chuyên sâu và khả năng kết nối những người có cùng mối quan tâm. Những con nghê ngoại lai lan tràn, những chiếc cổng đình chùa bị thay mới vô hồn, những thông tin về ngôi đình, pho tượng, sắc phong có thể chưa được các cơ quan chuyên môn cập nhật kịp thời, nhưng lại được cộng đồng phát hiện, ghi chép, chia sẻ và cảnh báo rất nhanh.

Đặc biệt, sự lan tỏa từ cộng đồng thường mang tính gần gũi và thuyết phục. Người dân dễ tiếp nhận một câu chuyện do chính thành viên cộng đồng kể lại bằng trải nghiệm thật, hình ảnh thật, ký ức thật. Từ những nhóm có vẻ chuyên biệt, nhiều vấn đề về bảo vệ di tích, ứng xử với di sản hay gìn giữ cảnh quan văn hóa có thể trở thành mối quan tâm chung của xã hội.

Tuy nhiên, tình yêu văn hóa là điều kiện khởi đầu, chứ chưa đủ để bảo đảm một hành trình dài. Theo tôi, các nhóm này cần chú ý 3 yêu cầu.

Thứ nhất là độ tin cậy của tri thức. Các thông tin văn hóa lịch sử này cần được kiểm chứng, ghi rõ nguồn và phân biệt giữa tư liệu, giả thuyết với ý kiến cá nhân.

Thứ hai là tính bền vững của tổ chức. Một cộng đồng không nên phụ thuộc hoàn toàn vào một vài cá nhân nhiệt huyết. Họ cần hình thành đội ngũ kế cận, cơ chế biên tập nội dung, quy tắc hoạt động, kho lưu trữ chung và phương thức tài chính minh bạch…

Thứ ba là đạo đức trong bảo vệ di sản. Khi công bố hình ảnh, bản vẽ, vị trí hiện vật quý hoặc những thông tin nhạy cảm về di tích, cần tính đến nguy cơ trộm cắp, buôn bán cổ vật, xâm hại không gian tín ngưỡng và vi phạm quyền riêng tư của cộng đồng. Bảo vệ di sản không chỉ là nói thật nhiều về di sản, mà còn là biết thông tin nào cần công khai, thông tin nào cần được bảo vệ.

Về phía nhà nước, tôi cho rằng cần có cơ chế hỗ trợ các cộng đồng này bằng những khoản tài trợ nhỏ, chương trình đào tạo về số hóa, bản quyền, truyền thông và quản trị cộng đồng; đồng thời mở rộng quyền tiếp cận dữ liệu văn hóa chính thống. Điều cần tránh là hành chính hóa hoặc biến họ thành "cánh tay nối dài" đơn thuần của cơ quan quản lý. Sức sống của họ nằm ở tính tự nguyện, độc lập, đa dạng và tình yêu chân thành đối với văn hóa.

Nếu được hỗ trợ đúng cách, mỗi nhóm chuyên biệt có thể trở thành một trung tâm tri thức nhỏ, còn hàng nghìn trung tâm tri thức nhỏ kết nối với nhau sẽ tạo nên mạng lưới bảo vệ và lan tỏa văn hóa VN rộng lớn, bền vững.

Định hướng giá trị xã hội trên không gian số

Chương trình nghệ thuật chính luận Tổ quốc trong tim là ví dụ về việc đưa văn hóa lên môi trường số có thể định hướng giá trị xã hội. Chương trình không chỉ thu hút hơn 50.000 khán giả trực tiếp tại sân vận động quốc gia Mỹ Đình vào tháng 8.2025 mà còn được lan tỏa rộng rãi qua truyền hình, báo chí và các nền tảng mạng xã hội. Sau đó, chương trình tạo ra kết nối thế hệ để nối dài tiếp lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, sự biết ơn đối với các thế hệ đi trước. Những hình ảnh do chính công chúng ghi lại đã tạo thành dòng cảm xúc chung về lòng yêu nước và biết ơn. Họ không chỉ tiếp nhận tinh thần này mà còn chủ động lan tỏa.

Đối với các nhóm yêu văn hóa, điều quan trọng là xây dựng uy tín như những "người gác cổng tri thức" trong từng lĩnh vực. Mỗi nhóm nên có đội ngũ cố vấn chuyên môn, nguyên tắc kiểm chứng, cách ghi nguồn và cơ chế đính chính khi có sai sót. Khi có tranh luận, cần tạo ra không gian đối thoại dựa trên chứng cứ thay vì biến khác biệt học thuật thành công kích cá nhân. Các nhóm này cũng nên phối hợp để tránh tình trạng mỗi nhóm chỉ nhìn văn hóa qua một lát cắt riêng biệt.

Đồng thời, phải đặc biệt chú trọng giáo dục năng lực số cho công chúng. Mỗi người cần biết kiểm tra nguồn, đối chiếu thông tin, nhận diện nội dung được cắt ghép, hiểu cách thuật toán ưu tiên thông tin và có trách nhiệm khi chia sẻ. Trong kỷ nguyên số, năng lực thẩm định thông tin cũng là một bộ phận của năng lực văn hóa. Vì thế, xây dựng chủ quyền văn hóa trên không gian số cũng là bảo vệ quyền của người VN được tiếp cận tri thức đúng về dân tộc mình.

 Trinh Nguyễn (ghi)

Ngôi nhà văn hóa Việt không khoảng cách địa lý trên không gian số

Với cộng đồng người VN sống xa quê hương, không gian số cần trở thành một "ngôi nhà văn hóa VN không có khoảng cách địa lý". Ngôi nhà ấy không chỉ cung cấp thông tin mà phải tạo cảm giác thuộc về, giúp mỗi người tìm thấy mối liên hệ giữa bản thân, gia đình mình với lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa dân tộc.

Bên cạnh đó, cần xem kiều bào không chỉ là đối tượng tiếp nhận mà còn là chủ thể sáng tạo và quảng bá văn hóa. Những câu chuyện về gia đình người Việt ở nước ngoài, hành trình giữ tiếng Việt, cách tổ chức tết hay cách đưa nghệ thuật VN vào đời sống sở tại cũng là một phần của văn hóa VN đương đại. Đây là điều các cơ quan đại diện ngoại giao, trung tâm văn hóa VN… cần chú ý và kết nối.

PGS-TS Bùi Hoài Sơn

Read Entire Article