Con người "nâng niu tất cả"
Luôn coi con người là điều cao quý, thiêng liêng nhất nên tình yêu lớn nhất của Hồ Chí Minh chính là tình yêu con người. Xuất phát từ một trái tim cao cả nên tình yêu ấy có nhiều nét đặc biệt. Đó không chỉ là tình yêu đồng bào mà còn là tình yêu đồng loại; đó không chỉ là tình yêu con người chung chung mà là sự quan tâm chu đáo đến những thân phận cụ thể; đó không chỉ là lòng trắc ẩn, cảm thông mà là sự hành động không ngừng nghỉ để mưu cầu hạnh phúc cho con người.
Dẫu trong trái tim bao la của Hồ Chí Minh có chỗ cho tất cả mọi người, nhưng trước hết Người luôn quan tâm đến những ai yếu thế, cùng cực. Luôn đồng cảm với mọi nỗi đau con người nên Hồ Chí Minh đã đúc kết về đời sống tình cảm của mình như sau: "Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi". Với miền Nam "đi trước, về sau", Người còn nói: "Một ngày đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên". Khi nỗi khổ đau của con người đa dạng đến vô cùng thì trái tim Người phải chịu nhiều đau đớn.

Bác Hồ ân cần thăm hỏi thiếu nhi xã Tam Sơn, H.Tiên Sơn (tỉnh Hà Bắc cũ) trong dịp về thăm và chúc tết đồng bào tại đây, ngày 9.2.1967
Ảnh: Tư liệu/TTXVN
Yêu thương con người nên trước sự hy sinh, đổ máu vì nền độc lập dân tộc của mỗi người dân Việt Nam, Người đều đau "như đứt một đoạn ruột". Vì rất yêu thương con người nên Người luôn nâng niu mọi thành quả, cống hiến của họ. Do đó, dù bận trăm công nghìn việc, Người vẫn dõi theo và kịp thời biểu dương những tấm gương tiêu biểu trong phong trào "Người tốt, việc tốt". Yêu thương con người nên Người luôn trân trọng và biết ơn trước những tình cảm sâu nặng mà nhân dân dành cho mình. Suốt đời, Hồ Chí Minh đã thực hành một cách cảm động triết lý cao cả là "Không có gì thuộc về con người lại xa lạ đối với tôi".
Từ lòng yêu thương con người sâu sắc, Hồ Chí Minh đã nâng niu, giữ gìn di sản, truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bởi yêu truyền thống chính là yêu ông cha, nâng niu di sản văn hóa chính là kính trọng bao lớp người đã làm nên nó. Vì thế, cuộc đời Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về việc kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc như yêu nước, đoàn kết, nhân ái, lạc quan yêu đời... Tự hào về ông cha, trân trọng lịch sử oai hùng của dân tộc nên Người đã căn dặn "Dân ta phải biết sử ta". Trân trọng văn hóa dân tộc nên Người luôn đấu tranh để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Quý trọng văn hóa dân tộc nên trước khi "vào cõi trường sinh nhẹ cánh bay", Người đã muốn nghe một khúc hát dân ca.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người có tình cảm sâu nặng với thiên nhiên. Trong mọi hoàn cảnh, dù trong tù ngục hay trên mỗi nẻo đường đánh giặc, dù đang ẩn nấp nơi non cao hay ung dung giữa nhà sàn lộng gió, những câu thơ chan chứa tình yêu, sự giao cảm với thiên nhiên của Người vẫn không ngừng tuôn chảy. Yêu thiên nhiên nên Người đã phát động phong trào Tết trồng cây và để lại lời dặn bất hủ: "Mùa xuân là Tết trồng cây/ Làm cho đất nước càng ngày càng xuân".
Nâng niu con người, nâng niu di sản văn hóa dân tộc và nâng niu thiên nhiên... suy cho cùng đều xuất phát từ tình yêu mãnh liệt mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho Tổ quốc và nhân loại. Vì thế, Người đã trở thành biểu tượng vĩ đại của chủ nghĩa nhân văn cao cả.
"Chỉ biết quên mình cho hết thảy"
Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đúc kết: "Chủ tịch Hồ Chí Minh không có cái gì riêng. Cái gì của nước, của dân là của Người. Quyền lợi tối cao của nước, lợi ích hằng ngày của dân là sự lo lắng đêm ngày của Người". Triết lý "vì nước quên thân, vì dân phục vụ" đã được Hồ Chí Minh thực hành một cách vô cùng cảm động.

Bác Hồ với các cháu thiếu nhi
ẢNH: TƯ LIỆU
Vì dân, vì nước, Người đã kiên quyết dấn thân vào hành trình cứu nước đầy gian khổ. 30 năm hoạt động quốc tế của Người là một chuỗi những thăng trầm: hai lần ngồi tù, một lần lãnh án tử hình vắng mặt; có giai đoạn hoạt động rất sôi nổi, được đánh giá cao; có giai đoạn bị hiểu lầm, nghi kỵ và phải sống "như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng". Vượt qua sự đày ải, truy lùng của kẻ thù đã rất khó, nhưng vượt qua sự hiểu lầm, nghi kỵ của đồng chí vì những quan điểm sáng tạo vượt tầm thời đại còn day dứt hơn nhiều. Trong những năm tháng hoạt động cách mạng, đã bao lần Người phải "hòa lệ thành thơ" và "trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành" - những điều mà Người đã bày tỏ trong tác phẩm Nhật ký trong tù. Tuy nhiên, tất cả những điều mà Người trăn trở đều thuộc về "nỗi lo dân nước, nỗi năm châu" chứ không phải là sự lo lắng cho cá nhân mình hay gia đình mình.
Vì nhân dân, Người đã sống một cuộc đời giản dị đến khắc khổ. Sự thanh đạm, tiết kiệm trong sinh hoạt của Người đã trở thành huyền thoại về đạo đức cách mạng. Những tài sản riêng của Người như vài bộ quần áo bạc màu, đôi dép cao su mòn vẹt, cái quạt lá, cái đài xuềnh xoàng, cái máy chữ cũ kỹ… đã nói lên sự tiết kiệm, sự hy sinh trọn vẹn của con người đã tự nguyện sống theo lý tưởng "Sự Dân nguyện tận hiếu/Sự Quốc nguyện tận trung".
Vì nghĩa lớn với dân tộc, Người đã gác lại tình riêng. Khi mới 21 tuổi, Người đã chấp nhận rời xa cha già, anh chị em ruột thịt, bạn bè thân thiết để "đi tìm hình của nước". Đến khi đã trở thành lãnh tụ tối cao của dân tộc, Người vẫn tiếp tục hy sinh tình nhà. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, khi anh trai cũng như lúc chị gái qua đời, Người đều không thể về chịu tang.
Đọc bức điện Người gửi dòng họ Nguyễn Sinh, ta thấy trong đó bao đau đớn, dằn vặt: "Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu. Than ôi! Tôi chịu tội bất đệ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước". Vì nghĩa lớn, Người đã sống một cuộc đời "Giường mây, chiếu cói, đơn chăn gối". Là thi sĩ đích thực, Người từng mơ ước có ngày "Thảnh thơi vui thú thanh nhàn/Sớm khuya tiếng hạc, tiếng đàn tiêu dao"; nhưng vì trách nhiệm với Tổ quốc, Người đã hy sinh mọi sở thích, ước vọng cá nhân để gánh vác việc nước.
Trọn đời hy sinh vì dân, vì nước nhưng cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn cho rằng mình chưa làm tròn nhiệm vụ bởi miền Nam chưa được giải phóng. Vì thế, Người đã từ chối mọi danh hiệu cao quý mà Đảng, Nhà nước và bạn bè quốc tế dành tặng riêng cho Người. Điều đáng nói là, con người "chỉ biết quên mình cho hết thảy" lại là người không bao giờ coi những điều mình đã hy sinh là một sự hy sinh. Người đã quên mình, dâng hiến và hóa thân vào nhân dân, dân tộc và nhân loại một cách rất tự nhiên và như điều không thể khác.
Sinh thời, Lão Tử, triết gia thời cổ đại, từng nói: "Trời đất vì không sống cho mình nên mới được trường sinh. Thánh nhân đặt thân mình ở sau mà lại lên trước, đặt thân mình ở ngoài mà lại còn". Với trái tim tràn đầy yêu thương và sự hy sinh trọn vẹn cho dân tộc, cho nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một "huyền thoại ngay từ khi còn sống". Vì Người đã "nâng niu tất cả chỉ quên mình" nên khi trái tim ấy ngừng đập thì hình ảnh của Người vẫn bất tử "trong lòng dân và trong trái tim nhân loại" và tất yếu sẽ được "thế giới nghiêng mình, loài người nhớ ơn". Do đó, cống hiến cuối cùng của Người đối với hậu thế chính là làm chúng ta hiểu sâu sắc hơn về sức sống và cội nguồn bất tử của bậc vĩ nhân.

1 hour ago
2







