Warning: session_start(): open(/home/obslnetp/public_html/src/var/sessions/sess_fd6caac3ced8a0559a32752006865cd7, O_RDWR) failed: Disk quota exceeded (122) in /home/obslnetp/public_html/src/bootstrap.php on line 59

Warning: session_start(): Failed to read session data: files (path: /home/obslnetp/public_html/src/var/sessions) in /home/obslnetp/public_html/src/bootstrap.php on line 59
Việt Nam cần làm gì để phát triển xăng sinh học? - Tin Tức Cập Nhật Nhanh

Việt Nam cần làm gì để phát triển xăng sinh học?

58 minutes ago 4
Quảng Cáo

0943778078

Việt Nam cần làm gì để phát triển xăng sinh học? - Ảnh 1.

Trong bối cảnh cam kết Net Zero vào năm 2050, xăng sinh học (đặc biệt là E10) đang trở thành giải pháp quan trọng của Việt Nam - Ảnh: HỮU HẠNH

Từ câu chuyện của thế giới

Hiện nay, Brazil là nước dẫn đầu toàn cầu về xăng sinh học từ những năm 1970 với chương trình Proálcool (thực hiện từ năm 1975, sử dụng ethanol (cồn), sản xuất từ bã mía để pha vào xăng).

Từ năm 2025, tỉ lệ pha bắt buộc ở nước này lên E30 (30% ethanol), một số bang sử dụng E100 (ethanol tinh khiết). Brazil sản xuất ethanol đạt kỷ lục khoảng 36 - 37 tỉ lít/năm (2024 - 2025), chủ yếu từ mía đường. Hiện có hơn 37 triệu xe Flex-Fuel Vehicles (FFV) - xe chạy được cả xăng và ethanol.

Thành công của Brazil đến từ chính sách dài hạn, ổn định qua nhiều năm; ưu đãi thuế mạnh (thuế ethanol thấp hơn xăng); tích hợp chuỗi giá trị nông nghiệp - công nghiệp (mía → ethanol → điện từ bã mía); đồng thời có hệ thống phân phối rộng khắp, người dân quen sử dụng.

Mỹ là quốc gia sản xuất lớn và ổn định tiếp theo. Hiện xăng E10 là tiêu chuẩn quốc gia từ nhiều năm nay (chiếm khoảng 95% lượng xăng tiêu thụ, sản xuất ethanol chủ yếu từ ngô), đạt khoảng 56 - 60 tỉ lít/năm.

Nước này có một số chính sách nổi bật, như Renewable Fuel Standard (RFS - Tiêu chuẩn nhiên liệu tái tạo), bắt buộc pha ethanol; hỗ trợ tín dụng carbon (Tiêu chuẩn nhiên liệu carbon thấp - LCFS - ở một số bang); mạng lưới blender pump (loại cột bơm xăng có khả năng pha trộn nhiên liệu trực tiếp tại trạm xăng theo mong muốn của khách hàng trước khi bơm vào xe) cho xăng E15 và E85…

Còn Thái Lan có thể coi là mô hình thành công ở Đông Nam Á về việc sử dụng xăng sinh học, khi dẫn đầu khu vực về ethanol, bắt đầu từ năm 2005 với E10, sau đó đẩy mạnh E20 và E85. 

Nước này vốn có nền nông nghiệp phát triển, đã sử dụng nguyên liệu chính là sắn và mía; đến nay hầu như chỉ còn bán xăng pha ethanol.

Các giải pháp hiệu quả mà Thái Lan áp dụng có thể kể: giá E10 thấp hơn xăng khoáng 8.000 - 10.000 đồng/lít (trợ giá từ thuế xăng); tuyên truyền mạnh, hỗ trợ xe tương thích; tích hợp với ngành nông nghiệp (tạo đầu ra cho sắn và mía)…

Trong khi đó Indonesia đang đẩy mạnh E10 từ năm 2025, hướng tới E20 vào năm 2030. Nước này tích cực hợp tác với Brazil, có sự đầu tư mạnh mẽ từ một số tập đoàn như Toyota và Pertamina; đồng thời định hướng giảm nhập khẩu dầu mỏ. 

Ấn Độ có Chương trình xăng pha ethanol (Ethanol Blended Petrol, EBP), đạt 15 - 20% xăng sinh học từ năm 2025, mục tiêu tiến tới E20 - E30.

Nước này sử dụng đường, gạo hỏng và một số phụ phẩm để sản xuất ethanol. Còn ở châu Âu, nhiều nước dùng E10 làm tiêu chuẩn, tập trung vào tính bền vững và giảm phát thải vòng đời.

Việt Nam cần làm gì để phát triển xăng sinh học? - Ảnh 2.

Xăng E10 được bán tại 4 cửa hàng đầu tiên của Petrolimex Đà Nẵng - Ảnh: B.D.

Đến bài học chung cho Việt Nam

Từ kinh nghiệm các nước, Việt Nam có thể rút ra một số bài học chung. Đó là kết hợp chính sách bắt buộc cùng ưu đãi thị trường và đầu tư giống cây trồng và công nghệ; tập trung vào công nghệ sản xuất thế hệ 2 (từ phụ phẩm), xuất khẩu mạnh và kết hợp với giảm phát thải.

Từ nhận thức giá cả là yếu tố quyết định hành vi người tiêu dùng, cần tuyên truyền tốt để loại bỏ lo ngại về chất lượng và tương thích động cơ.

Vì vậy cần có chính sách dài hạn và ổn định, nhất là phải thực hiện qua nhiều năm, kết hợp bắt buộc và ưu đãi thuế/giá, gắn với trợ giá ban đầu hoặc cơ chế quỹ hỗ trợ. Song song đó cần phát triển nguyên liệu bền vững, nhất là quy hoạch vùng nguyên liệu (sắn, ngô, mía…) để tránh cạnh tranh lương thực.

Phải chú trọng kết nối nông dân - nhà máy - tiêu dùng để tạo việc làm và thu nhập nông thôn. Về hạ tầng và xe cộ, cần nâng cấp kho pha trộn, khuyến khích xe FFV hoặc xe tương thích E10/E20. Đương nhiên cần thực hiện tốt công tác tuyên truyền gắn với giám sát, nhất là xử lý lo ngại về chất lượng, kiểm soát chặt chẽ ethanol nhập khẩu và chất lượng sản phẩm.

Việt Nam đang triển khai E10 toàn quốc từ tháng 6-2026 là bước đi đúng hướng. Việc học hỏi kinh nghiệm từ các nước sẽ giúp Việt Nam đẩy nhanh lộ trình, giảm phụ thuộc nhập khẩu xăng dầu, cải thiện môi trường và phát triển nông nghiệp bền vững.

Ích lợi của việc sử dụng xăng sinh học

Việc phát triển xăng sinh học không chỉ góp phần giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch mà còn mang lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường sâu sắc.

Trước hết, lợi ích về môi trường là rõ nét nhất. Sử dụng xăng sinh học giúp giảm đáng kể khí thải độc hại. Theo các nghiên cứu, E10 giảm khoảng 20-44% CO, 10-25% hydrocarbon và khoảng 10% NOx so với xăng khoáng. Nếu triển khai rộng rãi E10 với mức tiêu thụ xăng khoảng 11-12 triệu m³/năm, Việt Nam có thể giảm khoảng 2,5 triệu tấn CO₂ mỗi năm.

Thứ hai, xăng sinh học góp phần quan trọng vào an ninh năng lượng quốc gia. Việt Nam hiện nhập khẩu một phần lớn xăng dầu. Việc thay thế 10% bằng ethanol giúp giảm áp lực nhập khẩu khoảng 10%, tăng tính tự chủ năng lượng trong bối cảnh giá dầu thế giới biến động mạnh và rủi ro địa chính trị cao. Ethanol có thể sản xuất từ nguyên liệu trong nước như sắn, ngô - những cây trồng mà Việt Nam có lợi thế lớn.

Thứ ba, lợi ích kinh tế - xã hội rất thiết thực. Phát triển xăng sinh học tạo đầu ra ổn định cho nông sản, thúc đẩy chuỗi liên kết nông nghiệp - công nghiệp. Khi các nhà máy ethanol hoạt động đúng công suất sẽ tạo việc làm cho hàng trăm ngàn lao động nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân.

Đồng thời ngành công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học cũng được kích thích phát triển, góp phần vào tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn.

Hiện Việt Nam đã có nền tảng nhất định với 6 nhà máy sản xuất ethanol công suất thiết kế khoảng 500.000m³/năm. Tuy nhiên thực tế vận hành còn thấp, nguồn cung trong nước chỉ đáp ứng 30-40% nhu cầu E10, phần còn lại phải nhập khẩu.

Một số giải pháp để phát triển xăng sinh học hiệu quả

Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp chủ yếu:

Một là, hoàn thiện cơ chế chính sách. Nhà nước cần ban hành ưu đãi thuế, phí cụ thể cho xăng sinh học (giảm thuế môi trường, hỗ trợ giá…), đồng thời có cơ chế giá ổn định dài hạn để doanh nghiệp yên tâm đầu tư. Sửa đổi quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về xăng sinh học để đảm bảo chất lượng và tương thích với động cơ.

Hai là, phát triển nguồn nguyên liệu bền vững. Cần quy hoạch vùng nguyên liệu sắn, ngô chuyên canh quy mô lớn, áp dụng giống mới, công nghệ cao để tăng năng suất và ổn định cung cấp. Đồng thời nghiên cứu đa dạng hóa nguyên liệu (mật rỉ đường, phế thải nông nghiệp…) và ethanol thế hệ 2.

Ba là, đầu tư hạ tầng phối trộn và phân phối. Các doanh nghiệp đầu mối cần nâng cấp kho chứa, thiết bị pha trộn. Đẩy mạnh số lượng cây xăng bán E10, đặc biệt ở khu vực nông thôn và miền núi.

Bốn là, tăng cường tuyên truyền và giám sát. Cần chiến dịch truyền thông rộng rãi để người dân hiểu rõ lợi ích, tính tương thích của E10 với xe máy, ô tô hiện hành (hầu hết xe đời mới đều sử dụng tốt). Kiểm tra nghiêm chất lượng sản phẩm, xử lý vi phạm để xây dựng lòng tin.

Năm là, thúc đẩy hợp tác quốc tế. Học hỏi kinh nghiệm từ các nước; nhập khẩu ethanol tạm thời trong giai đoạn chuyển tiếp và thu hút đầu tư công nghệ sản xuất ethanol tiên tiến.

Tóm lại, phát triển xăng sinh học là xu hướng tất yếu, mang lại lợi ích đa tầng cho Việt Nam. Việc triển khai thành công E10 sẽ góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển bền vững, kinh tế xanh của đất nước trong giai đoạn mới. Thành công của lộ trình này không chỉ là câu chuyện năng lượng, mà còn là bước tiến quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế.

Xăng sinh học (chủ yếu là ethanol pha vào xăng) đã được nhiều quốc gia triển khai thành công, trở thành mô hình quan trọng trong chuyển đổi năng lượng xanh.

Trong bối cảnh cam kết Net Zero vào năm 2050, xăng sinh học (đặc biệt là E10) đang trở thành giải pháp quan trọng của Việt Nam. Xăng sinh học là hỗn hợp giữa xăng khoáng truyền thống và ethanol (cồn sinh học) với tỉ lệ pha 5%, 10% hoặc hơn.

Từ ngày 1-6-2026, theo lộ trình của Bộ Công Thương, xăng E10 sẽ được triển khai trên toàn quốc, thay thế dần xăng khoáng.

Read Entire Article