
Tượng Thái phó Nguyễn Ư Dĩ trước đây được bảo vệ trong am bê tông cốt thép cạnh đình làng Trà Liên - Ảnh: L.Đ.D.
Pho tượng bằng kim loại (một số người cho là có pha đồng đen) được công nhận là một trong 10 bảo vật quốc gia tại Quảng Trị, ít ai biết pho tượng này đã vài lần bị mất nhưng rồi vẫn trở về với chốn cũ một cách kỳ lạ.
Từ vị "khai quốc công thần" xứ Đàng Trong
Nhắc buổi đầu dựng nghiệp của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng trên đất Quảng Trị, sách vở đã kể nhiều đến một người phò tá cho ông là người cậu ruột: quan Thái phó Nguyễn Ư Dĩ.
Chị ruột của Nguyễn Hoàng là Ngọc Bảo được cha là Nguyễn Kim gả cho Trịnh Kiểm, một võ tướng được Nguyễn Kim tin dùng. Nhưng khi Nguyễn Kim chết, mọi quyền hành lọt vào tay Trịnh Kiểm, từ đó Trịnh Kiểm mặc sức hoành hành, tìm mọi cách thâu tóm uy quyền.
Trịnh Kiểm đã hãm hại Nguyễn Uông, anh ruột Nguyễn Hoàng, lại có mưu sĩ khuyên Trịnh Kiểm trừ nốt Nguyễn Hoàng để phòng hậu họa.
Biết tin này, Nguyễn Ư Dĩ bàn với Nguyễn Hoàng: "Kiểm đã hại anh cháu, nay có ý định hại cháu để trừ hậu họa, vậy nên phải tìm cách tránh thật xa. Đất Thuận Hóa vốn xa xôi hiểm trở, có thể giữ yên được thân mình, cháu nên nhờ chị cháu nói khéo với Kiểm vào đó để mưu việc lớn về sau".
Nghe lời cậu ruột, Nguyễn Hoàng theo Nguyễn Ư Dĩ bí mật tìm về làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại (Hải Dương cũ) thỉnh giáo Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khi đến gặp, Trạng Trình chỉ vào non bộ trước sân và nói: "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân". Nghĩa là: một dãy núi nằm ngang, có thể dung thân được muôn đời. Nguyễn Ư Dĩ nghe vậy, giục cháu tiến hành việc xin vào trấn nhậm phương Nam không thể chậm trễ.
Đại Việt sử ký toàn thư quyển 3 (bản in năm Chính Hòa, trang 137, NXB KHXH) chép về việc Chúa Nguyễn vào trấn nhậm Đàng Trong: "Tháng 10 (1558) Thái sư Trịnh Kiểm vào chầu, dâng biểu tâu xin sai con thứ của Chiêu Huân Tĩnh công (tức Nguyễn Kim) là Đoan Quận công Nguyễn Hoàng đem quân vào trấn thủ xứ Thuận Hóa để phòng giặc phía đông cùng với Trấn Quận công (không rõ tên) ở Quảng Nam cứu viện cho nhau.
Mọi việc của xứ này, không cứ lớn hay nhỏ và các ngạch thuế đều giao cả cho, hằng năm đến kỳ hạn thì thu nộp".
Cuối năm 1558, vâng theo khuyến dụ của Trạng Trình, Đoan quốc công Nguyễn Hoàng đưa binh tướng vào Đàng Trong để tránh hậu họa của họ Trịnh, vượt qua Hoành Sơn (Đèo Ngang - nay là ranh giới hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình).
Nếu theo ý của Trạng Trình, qua được Hoành Sơn là đã có thể dung thân nhưng Nguyễn Hoàng đã không dừng lại bên sườn Nam của dãy Hoành Sơn.
Ông và tùy tùng vượt thêm gần 200km nữa để hạ trại ven sông Thạch Hãn, vùng đất ngày đó được gọi là Dinh Cát, sau này thuộc xã Triệu Giang (huyện Triệu Phong cũ, nay là xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị mới).
Căn cứ vào những gì ghi chép trong chính sử cũng như dã sử, có thể nói công đầu cho hành trình mở cõi của Nhà Nguyễn về sau chính là từ người cậu ruột Nguyễn Ư Dĩ.
Có lẽ chính vì thế, sau gần 500 năm dâu bể kể từ khi Nguyễn Hoàng vào đóng đô trên miền đất này, những phủ đệ ban đầu đã tan thành cát bụi, những chùa chiền đã vụn vỡ bởi bom đạn chiến tranh, duy chỉ có một chứng tích đặc biệt của thời mở cõi còn lại đó là pho tượng quan Thái phó Nguyễn Ư Dĩ được đúc bằng đồng đã ở lại với vùng đất Quảng Trị hơn bốn thế kỷ, cho dù sau đó các Chúa Nguyễn đã tiếp tục thiên di về miền Thuận Hóa, chọn Phú Xuân làm kinh đô và mở mang nước Việt về tận châu thổ sông Cửu Long.

Lễ rước tượng ngài Nguyễn Ư Dĩ vào đền thờ xây mới năm 2022 để bảo vệ bảo vật quốc gia - Ảnh: L.Đ.D.
Đến pho tượng cổ chứng nhân thời mở cõi
Pho tượng quan Thái phó Nguyễn Ư Dĩ được đúc bằng đồng, cao 0,62m, phần vai rộng 0,32m, tạc tư thế toàn thân vị quan ngồi trên bệ thấp, hai chân gấp khuỷu hơi dang ra. Khuôn mặt chữ điền, mắt nhìn xuống, mũi cao, môi mỏng, cằm vuông, râu dài, tai rộng, đầu đội mũ quan hai lớp, chân đi hia chỉ để lộ phần mũi.
Toàn thân khoác áo choàng rộng phủ từ vai xuống vắt trùm cả hai chân. Hai tay vòng phía trước bụng khuất trong vạt áo choàng chỉ để hở một ngón tay cái của bàn tay phải. Phần bụng để hở to tròn. Trên ngực có một dải đai vòng.
Trọng lượng pho tượng nặng ước khoảng 200kg. Phong cách điêu khắc của pho tượng được một số nhà nghiên cứu cho rằng thuộc mỹ thuật thời Mạc (thế kỷ 16). Pho tượng được cho là chúa Nguyễn để tưởng nhớ công lao của Nguyễn Ư Dĩ đã cho đúc sau khi ông qua đời (năm 1602).
Pho tượng được công nhận là Bảo vật quốc gia vào năm 1998. Nhưng để giữ được báu vật đó cho đến ngày nay, được trưng bày trên vùng đất dựng nghiệp của nhà Nguyễn là một câu chuyện vừa hiện thực vừa nhuốm màu huyền tích.
Gần 20 năm trước, tháng 10-2008 khi về Trà Liên để thực hiện tuyến bài "Lịch sử thăng trầm của một dòng họ" nhân 450 năm nhà Nguyễn (1558-2008) đăng trên báo Tuổi Trẻ, việc đầu tiên mà ông Bùi Thịnh, trưởng ban điều hành làng văn hóa Trà Liên, giúp cho tôi là dắt ra ngôi am nhỏ nhưng kiên cố để thắp nhang cho ngài Nguyễn Ư Dĩ.
Ông Thịnh kể: Bức tượng bảo vật quốc gia này vốn được đúc từ thế kỷ 16, được thờ trong ngôi chùa có tên Liễu Ba (dân thường gọi là Liễu Bông). Năm 1972 chiến tranh ác liệt, chùa bị bom đánh sập nhưng pho tượng vẫn nguyên vẹn càng khiến dân trong vùng tin sự linh thiêng của ngài Nguyễn Ư Dĩ.
Hòa bình, trên nền chùa cũ, dân làng dựng lại nếp chùa đơn sơ để đặt tượng thờ. Hiếm có công thần nào lại được dân cúng giỗ quanh năm như Thái phó Nguyễn Ư Dĩ. Phong tục dân làng mỗi năm đều giỗ quan Thái phó vào các ngày rằm tháng 2, tháng 6, tháng 8, tháng chạp.
Thời kỳ Pháp xâm lược, người Pháp đã mang nhiều bảo vật Việt Nam về Pháp quốc và bức tượng này cũng bị dòm ngó. Dân làng đã đem tượng đi giấu, mãi sau này mới đem trở lại điện thờ.
Sau năm 1975, bức tượng bị mất cắp lần thứ nhất. Kẻ gian trong đêm vào chùa khiêng tượng xuống bến sông rồi cho lên thuyền, tuy nhiên do tượng quá nặng hoặc va chạm khi khiêng tượng lên, thuyền bị vỡ mạn, kẻ xấu phải đào cát bên bờ sông Ái Tử để giấu.
Sáng hôm sau khi dân làng phát hiện tượng bị mất, truy theo thấy có dấu vết chuyển bức tượng xuống bến sông. Mọi người nghĩ pho tượng đã bị mất nhưng có bô lão trong làng đi bốc quẻ, cho biết pho tượng chưa được dời đi, chịu khó tìm dọc bãi sông sẽ gặp.
Hàng trăm người làng dùng thuốn sắt xăm dọc bờ sông thì phát hiện bức tượng đang vùi sâu dưới cát. Ông Thịnh bảo: Bình thường tượng rất nặng, phải khó khăn lắm mới khiêng được, vậy mà khi tìm ra chỉ bốn trai làng đã khiêng tượng đi phăng phăng.
Tượng yên ổn một thời gian thì vào năm 1989, trong đêm mưa to gió lớn, kẻ xấu lại đột nhập vào làng trộm nhưng chỉ khiêng tượng đi được một quãng đường ngắn rồi bỏ lại.
Dân làng sáng mai ra phát hiện pho tượng đang ở trên bãi đất trước làng, mới quyết tâm không để tượng bị mất cắp lần nữa.
Lần này không để tượng thờ ở chùa Liễu Bông mà mang về cạnh đình làng Trà Liên rồi xây một cái am nhỏ nhưng kiên cố có bọc bê tông cốt thép để bảo vệ tượng. Phía trước mặt tượng cũng đổ bê tông chỉ chừa lại một khe hẹp, không cách nào đưa tượng ra khỏi bệ thờ được.
Chính vì sự cảnh giác quá cao độ trong việc bảo vệ bức tượng đồng ngài Nguyễn Ư Dĩ, nên vào tháng 8-2006 khi cán bộ Bảo tàng Quảng Trị cùng các nghệ nhân đúc đồng của làng nghề Ý Yên (Nam Định) về làng lấy mẫu bức tượng đúc lại phiên bản tương tự nhằm trưng bày tại bảo tàng đã diễn ra rắc rối không đáng có: do sơ suất trong việc trao đổi giữa địa phương và nhóm thực hiện mẫu tượng, dân làng đã vây bắt giam luôn cả nhóm vì nghi...nhóm này trộm tượng.
Dĩ nhiên với công đức vị khai quốc công thần, không thể "bảo vệ" mãi ngài trong cái am bé nhỏ và tù túng dù rất kiên cố, nên sau nhiều năm vận động, chính quyền địa phương và dân làng đã xây được ngôi đền thờ quan Thái phó.
Hôm địa phương đang tiến hành dựng đền, tôi tìm vào thăm, thấy ngay chính điện chỗ sẽ đặt bức tượng một trụ sắt đúc chìm vươn lên đúng vị trí ấy, theo anh em giải thích, để an toàn tuyệt đối, đế của pho tượng sẽ được hàn chặt vào trụ thép này.
Và ngày khánh thành ngôi đền thờ Khai quốc công thần Nguyễn Ư Dĩ trở thành ngày hội của hàng ngàn người dân trong vùng.
*************
>> Kỳ tới: Chiếc trống đá kỳ bí không thể bị trộm
