Những khó khăn từ thực tế nhà trường
Theo dự án đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường đang được Bộ GD-ĐT lấy ý kiến, việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai không đơn thuần là tăng số tiết học tiếng Anh mà hướng đến xây dựng môi trường để tiếng Anh được sử dụng trong dạy học, giao tiếp, quản lý và các hoạt động giáo dục. Dự thảo cũng tiếp cận việc đánh giá theo 3 mức độ phát triển, hướng tới cải tiến chất lượng thay vì tạo thêm áp lực xếp hạng cho các cơ sở giáo dục. Đây là một định hướng đáng khuyến khích, tuy nhiên không ít thách thức.
Đầu tiên nằm ở đội ngũ giáo viên (GV). Không phải GV bộ môn nào cũng có năng lực tiếng Anh đủ để giảng dạy chuyên môn bằng ngoại ngữ. Trong một nhà trường, sự chênh lệch này càng rõ giữa các thế hệ GV.

Trẻ mầm non TP.HCM trong một số hoạt động làm quen tiếng Anh
ẢNH: THÚY HẰNG
Vì thế, nếu ngay đầu năm học, các trường đồng loạt đưa yêu cầu mỗi tổ chuyên môn phải có những tiết dạy bằng tiếng Anh vào kế hoạch, rất dễ phát sinh tình trạng "có kế hoạch nhưng khó có chất lượng thực chất".
Khó khăn thứ hai là năng lực tiếng Anh của học sinh (HS) cũng không đồng đều. Nếu GV chưa đủ khả năng sử dụng tiếng Anh chuyên môn và HS cũng chưa đủ năng lực tiếp nhận thì tiết học có thể trở thành một cuộc "dịch thuật" kéo dài. Khi ấy, một câu hỏi cần được đặt ra: mục tiêu chính của tiết học là gì? Không thể vì muốn tăng cường tiếng Anh mà làm suy giảm mục tiêu cốt lõi của môn học.
Ngoài ra, nếu việc sử dụng tiếng Anh trở thành một tiêu chí để kiểm tra kế hoạch nhà trường, các tổ chuyên môn có thể rơi vào tâm lý làm cho đủ yêu cầu. Khi đó, tiếng Anh xuất hiện trên giáo án, trong kế hoạch, trong một vài câu giao tiếp của tiết học, nhưng chưa chắc tạo ra một môi trường sử dụng tiếng Anh hiệu quả.
Điều gì sẽ xảy ra khi giáo viên và học sinh chưa đủ năng lực ngoại ngữ?
Một GV lịch sử muốn có một tiết học hiệu quả bằng tiếng Việt đã phải chuẩn bị rất nhiều: lựa chọn tư liệu, thiết kế câu hỏi, tổ chức hoạt động, giúp HS phân tích nguyên nhân và hệ quả của sự kiện, kết nối các vấn đề lịch sử với thực tiễn.
Vậy nếu chuyển toàn bộ hoặc phần lớn tiết học sang tiếng Anh trong khi GV và HS chưa đủ năng lực ngoại ngữ, điều gì sẽ xảy ra?
Thời gian 45 phút của tiết học nếu GV phải dành phần nhiều để diễn đạt bằng tiếng Anh, HS mất thời gian để hiểu ngôn ngữ trước khi hiểu nội dung, thì "băng thông" dành cho kiến thức lịch sử sẽ bị thu hẹp.
Do đó, thay vì yêu cầu GV lịch sử ngay lập tức "dạy bài lịch sử bằng tiếng Anh", có thể bắt đầu bằng những hình thức phù hợp hơn: sử dụng một số thuật ngữ tiếng Anh; cho HS đọc một đoạn tư liệu lịch sử ngắn bằng tiếng Anh; khai thác một video hoặc hình ảnh có chú thích tiếng Anh; đặt một vài câu hỏi đơn giản bằng tiếng Anh; tổ chức câu lạc bộ, dự án hoặc hoạt động trải nghiệm lịch sử có yếu tố tiếng Anh...

Học sinh tiểu học trong một hoạt động học tiếng Anh qua toán - khoa học thực nghiệm
ẢNH: THÚY HẰNG
Lo lắng nhất là năng lực giáo viên
Còn xét theo tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá mức độ đạt được đối với cơ sở giáo dục mầm non, dự thảo có nhiều điểm đáng chú ý.
Ở mức độ 1 - mức độ thấp nhất, riêng về tiêu chuẩn giáo dục và hoạt động dạy học, có 3 tiêu chí. Về tiêu chí "Kế hoạch giáo dục của nhà trường và kế hoạch giáo dục của GV", có 2 nội dung, một là nhà trường có kế hoạch giáo dục được biên soạn bằng song ngữ; hai là mức độ lồng ghép tiếng Anh trong kế hoạch giáo dục của nhà trường và kế hoạch giáo dục của GV và đạt tỷ lệ từ 25% đến dưới 50%.
Về tiêu chí "Hoạt động giáo dục song ngữ", có 3 nội dung. Một là tỷ lệ số hoạt động giáo dục song ngữ trên tổng số hoạt động giáo dục theo kế hoạch giáo dục của nhà trường đạt từ 20% đến dưới 50%. Hai là mức độ tích hợp tiếng Anh trong kế hoạch bài dạy, hoạt động giáo dục đạt tỷ lệ từ 25% đến dưới 50%. Ba là tính nhất quán giữa kế hoạch giáo dục phát triển song ngữ, kế hoạch các lĩnh vực giáo dục khác và mục tiêu phát triển năng lực ngôn ngữ đạt tỷ lệ từ 25% đến dưới 50%.
Với tiêu chí "GV dạy song ngữ", dự thảo của Bộ nêu yêu cầu: Có đủ định biên GV tổ chức hoạt động giáo dục song ngữ được tuyển dụng chính thức theo quy định của Bộ GD-ĐT phụ trách dạy học tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai; tỷ lệ GV dạy song ngữ đạt trình độ Bậc 4 theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho VN hoặc tương đương, có bằng cao đẳng trở lên chuyên ngành ngôn ngữ tiếng Anh hoặc bằng cấp được công nhận tương đương và, hoặc có chứng nhận được phép làm giám khảo các kỳ thi cấp chứng chỉ IELTS, TOEFL đạt từ 20% đến dưới 50%; có đủ định biên GV tổ chức hoạt động giáo dục bằng song ngữ được tuyển dụng chính thức theo quy định của Bộ GD-ĐT phụ trách hoạt động giáo dục bằng song ngữ…
Song trong thực tế, lực lượng nhân sự, đội ngũ GV trong trường mầm non có đảm bảo đủ định biên, đạt được đầy đủ các tiêu chí, yêu cầu trên hay không luôn là điều các cán bộ quản lý lo ngại nhất.
Chuẩn đào tạo của GV mầm non hiện nay là có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm mầm non trở lên. Nhiều GV trong quá trình công tác đã chủ động học thêm văn bằng 2 ngôn ngữ Anh của một trường ĐH. Tuy nhiên, GV mầm non có bằng ngôn ngữ Anh và có thể dạy được tiếng Anh cho trẻ mầm non hay tổ chức hoạt động giáo dục song ngữ - bằng tiếng Việt và cả tiếng Anh cho trẻ mầm non là việc hoàn toàn khác nhau. Phương pháp dạy tiếng Anh và dạy học bằng tiếng Anh cho trẻ mầm non yêu cầu đòi hỏi về phương pháp sư phạm đặc thù.

Với giáo dục mầm non, đánh giá tiêu chí có mức độ lồng ghép tiếng Anh trong kế hoạch giáo dục của nhà trường
ảnh: Thúy Hằng
Cần một lộ trình lâu dài, áp dụng thí điểm
Hiệu trưởng một trường mầm non công lập mô hình chất lượng cao, tiên tiến, hội nhập quốc tế tại TP.HCM cho hay hiện nay trường của cô chỉ 3 - 4 GV có thể tự tin tổ chức hoạt động giáo dục song ngữ, cũng như tự tin có thể tích hợp tiếng Anh trong kế hoạch bài dạy, hoạt động giáo dục song ngữ mà không cần nhờ sự hỗ trợ của lực lượng GV tiếng Anh từ các đối tác. Nhà trường đang động viên, khuyến khích GV đi học nâng cao về năng lực tiếng Anh, đặc biệt tiếng Anh trong môi trường mầm non.
Tuy nhiên theo hiệu trưởng này, để thực hiện tốt việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường mầm non cần một lộ trình, thời gian, nên áp dụng thí điểm tại các trường đủ điều kiện trước.
Với trường phổ thông, theo các GV, trước mắt có thể phân loại mức độ sử dụng tiếng Anh của từng tổ chuyên môn và từng GV. Không nên yêu cầu GV nào cũng phải dạy bằng tiếng Anh. Những người có năng lực ngoại ngữ tốt có thể đi trước; người còn hạn chế có thể bắt đầu từ những hoạt động đơn giản. Có thể hình thành 3 bước: làm quen, tích hợp và chuyên sâu.
Song song đó phải có chương trình bồi dưỡng tiếng Anh thực chất cho GV bộ môn. Đặc biệt, cần có chính sách phù hợp với GV lớn tuổi. Về lâu dài, các trường có thể xây dựng những nhóm GV nòng cốt có năng lực ngoại ngữ và chuyên môn tốt, làm lực lượng tiên phong nhằm hỗ trợ đồng nghiệp và tổ chức những tiết học tích hợp.

46 minutes ago
6





