Sáng nay 7.8, Trường ĐH Ngoại ngữ – Tin học TP.HCM phối hợp cùng INTESOL Vietnam và các đơn vị đối tác trong nước, quốc tế tổ chức hội thảo quốc tế "Hướng đến tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai tại Việt Nam: Góc nhìn từ giảng dạy, chính sách và thực tiễn".
Hội nghị đã nhận được 203 bản tóm tắt nghiên cứu từ các nhà nghiên cứu, nhà giáo dục và chuyên gia thực hành chia sẻ về các phương pháp, kinh nghiệm đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai. Sau quá trình phản biện và tuyển chọn, 90 bài trình bày đã được đưa vào chương trình chính thức.

Chuyên gia chia sẻ tại hội thảo
ẢNH: NHẬT HY
Đưa tranh biện vào lớp học
Tại hội thảo, tiến sĩ Nguyễn Thụy Hồng Vân, chuyên gia đào tạo của INTESOL Worldwide, đã bàn về tích hợp phương pháp sư phạm dựa trên tranh biện nhằm hỗ trợ quá trình chuyển đổi từ EFL (tiếng Anh như một ngoại ngữ) sang ESL (tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai) tại Việt Nam".
Theo tiến sĩ Vân, việc đưa tranh biện vào lớp học không nhằm đào tạo học sinh thành những nhà hùng biện mà hướng đến việc biến tiếng Anh thành công cụ để học tập, tư duy và giao tiếp. Khi tiếng Anh trở thành ngôn ngữ của quá trình học, học sinh sẽ tập trung vào ý tưởng thay vì chỉ chú trọng đến cấu trúc ngôn ngữ.
Kết quả khảo sát mà tiến sĩ Vân công bố cho thấy phần lớn giáo viên đều đánh giá cao lợi ích của tranh biện đối với tư duy phản biện, kỹ năng giao tiếp trong việc chuyển đổi từ tiếng Anh như một ngoại ngữ sang tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai.
Tuy nhiên, chỉ khoảng 17% giáo viên thường xuyên áp dụng phương pháp này trong lớp học. Rào cản chủ yếu đến từ thời lượng tiết học hạn chế, sĩ số lớp đông, trình độ học sinh không đồng đều. Ngoài ra, chương trình còn nặng về thi cử, giáo viên thiếu tự tin, thiếu tập huấn cũng như học liệu sẵn có.
"Để thay đổi, giáo viên cần được trang bị các công cụ hỗ trợ như khung lập luận, mẫu câu, bảng từ vựng, thiết kế hoạt động phù hợp với từng trình độ và xây dựng môi trường học tập an toàn để học sinh mạnh dạn tranh luận", TS Vân nhận định.
Tích hợp lịch sử và văn hóa địa phương vào giảng dạy tiếng Anh
PGS-TS Gulnur Polkina Mannurovna đến từ Trường đại học Sư phạm Quốc gia Naberezhnye Chelny (Tatarstan, Nga), đã chia sẻ nghiên cứu về việc tích hợp lịch sử và văn hóa địa phương vào giảng dạy tiếng Anh nhằm phát triển năng lực đa văn hóa cho học sinh.
Nhóm nghiên cứu đã triển khai thí điểm chương trình ngoại khóa kéo dài 16 tuần cho 28 học sinh lớp 8 tại một trường phổ thông ở Tatarstan, với các chủ đề như lịch sử, văn hóa, lễ hội và địa danh địa phương. Kết quả cho thấy học sinh hứng thú hơn với việc học tiếng Anh, đồng thời cải thiện hiểu biết về văn hóa quê hương.
PGS-TS Gulnur Polkina Mannurovna nhận định: "Thay vì chỉ coi tiếng Anh là công cụ học ngoại ngữ, việc lồng ghép các giá trị lịch sử, văn hóa bản địa vào bài học sẽ giúp học sinh vừa nâng cao năng lực ngôn ngữ, vừa hiểu sâu hơn về bản sắc quê hương và có khả năng đối thoại với các nền văn hóa khác. Mô hình này được triển khai thí điểm với học sinh lớp 8 tại Tatarstan, thông qua các chuyên đề về lịch sử, văn hóa, lễ hội và di sản địa phương, qua đó góp phần tăng hứng thú học tập, mở rộng hiểu biết về văn hóa vùng miền và phát triển năng lực giao tiếp liên văn hóa".
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra một số thách thức như thiếu học liệu chuyên biệt, giáo viên cần được bồi dưỡng phương pháp, thời lượng chương trình còn hạn chế và việc đánh giá hiệu quả của mô hình vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.
Trong khi đó, bài phát biểu với chủ đề "Từ hiện tại đến tương lai: Phát triển những năng lực thiết yếu cho tương lai" của bà Ada Hou, chuyên gia tư vấn cao cấp về dịch vụ học thuật của National Geographic Learning (Mỹ), lại đề cập đến cách các lớp học tiếng Anh có thể giúp người học phát triển khả năng sáng tạo, tư duy phản biện, hợp tác, giao tiếp và những kỹ năng cần thiết để thích ứng với một thế giới ngày càng phức tạp.
Đưa tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai không phải để thay thế tiếng Việt
Chia sẻ về chủ đề của hội thảo, PGS-TS Nguyễn Ngọc Vũ, Phó hiệu trưởng HUFLIT, cho biết: "Trong bối cảnh tiếng Anh ngày càng trở nên thiết yếu, không chỉ đối với việc học tập và nghiên cứu mà còn đối với việc làm, hợp tác quốc tế, tham gia vào sự phát triển công nghệ và hội nhập toàn cầu, hội thảo hôm nay không chỉ là diễn đàn chia sẻ các kết quả nghiên cứu mới mà còn là cầu nối giữa học thuật, chính sách và thực tiễn, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động giảng dạy và học tập tiếng Anh trong hệ thống giáo dục Việt Nam ".

PGS-TS Nguyễn Ngọc Vũ, Phó hiệu trưởng HUFLIT, nhận định đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ 2 không phải thay thế tiếng Việt hay làm phai nhạt bản sắc địa phương, mà là mở rộng cơ hội cho người học
ẢNH: NHẬT HY
Theo ông Vũ, việc chuyển từ mô hình dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ (EFL) sang phát triển tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai (ESL) không đơn thuần chỉ là sự thay đổi về thuật ngữ. Điều đó đòi hỏi phải xem xét một cách nghiêm túc các vấn đề liên quan đến chính sách ngôn ngữ, thiết kế chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, kiểm tra đánh giá, đào tạo giáo viên, bản sắc người học, công nghệ cũng như thực tiễn sử dụng ngôn ngữ cả trong và ngoài lớp học.
"Sự chuyển đổi ấy phải được hiện thực hóa thông qua hoạt động hằng ngày của các trường học, trường ĐH, giáo viên, người học, gia đình, cộng đồng và các tổ chức giáo dục, đòi hỏi tiếng Anh không chỉ là một môn học, mà còn trở thành một công cụ có ý nghĩa phục vụ học tập, giao tiếp nghề nghiệp, hợp tác, sáng tạo và tham gia vào thế giới rộng lớn hơn".
Đồng thời, ông Vũ cho rằng quá trình chuyển đổi này phải luôn phù hợp với bối cảnh ngôn ngữ, văn hóa và giáo dục của Việt Nam. "Mục tiêu của chúng ta không phải thay thế tiếng Việt hay làm phai nhạt bản sắc địa phương, mà là mở rộng cơ hội cho người học, đồng thời thúc đẩy đa ngôn ngữ, củng cố sự tự tin về bản sắc văn hóa và tăng cường hội nhập quốc tế một cách thực chất", PGS-TS Vũ nêu quan điểm.

58 minutes ago
7






