Quảng Cáo
0943778078


Devaki (Nguyễn Thị Mỹ Phượng) là một trong 150 đứa trẻ sống sót khi chiếc cơ vận đầu tiên của Chiến dịch Babylift - di tản hơn 3.300 trẻ em được cho là mồ côi từ miền Nam Việt Nam sang Mỹ năm 1975. Là thế hệ con nuôi chiến tranh, họ đều rời Việt Nam khi còn quá nhỏ để tự quyết định được điều gì. Trong tâm trí nhiều người vẫn thường trực khao khát được lấp đầy phần ký ức mà họ “đã luôn không có”, rằng mình từ đâu đến, ai đã sinh ra mình.
Thời gian đang cạn dần, trong khi những đứa trẻ và những người mẹ vẫn đang chờ được tìm thấy nhau.
“Tôi là ai?”
Năm 2005, bà Devaki Murch quyết định về Việt Nam lần đầu cùng một nhóm con nuôi Babylift. Bà thấy “dễ chịu kỳ lạ”, không những không sợ hãi vì không biết tiếng Việt như những người cùng đoàn, mà còn cảm thấy rất được chào đón. Lần đầu tiên, người con nuôi Mỹ thấy nhiều người “trông giống mình” đến thế.
Bà gặp lại những người làm việc cho các cô nhi viện trước 1975 và nói lời tri ân họ vì đã chăm sóc bà khi bé.
“Nhờ họ mà chúng tôi còn sống. Tôi in ra tấm ảnh chụp chung với họ và thấy ‘Ồ, mình là người Việt’. Điều đó cứ nán lại trong tâm trí tôi”, bà bộc bạch.

Devaki khi còn nhỏ, tại Hawaii (Mỹ). Ảnh: Nhân vật cung cấp


Devaki trong cuộc phỏng vấn với VnExpress tại TP HCM, tháng 5/2026. Ảnh: Phùng Tiên
Bà đến thăm nơi chiếc C5A đã rơi và làm một lễ tưởng niệm nhỏ trên cánh đồng quận 12. Đứng ở đó, Devaki cảm nhận rõ ràng hơn bao giờ rằng bà và những người đồng hành năm xưa đã trải qua giây phút mỏng manh giữa sự sống và cái chết.
Bà về thăm Vĩnh Long - nơi bà chào đời - và thăm một mái ấm, soi lại mình trong đôi mắt của những đứa trẻ nơi đây. Nhưng bà không dám kỳ vọng nhiều vào việc tìm kiếm gia đình ruột thịt. Chẳng có nhiều manh mối để hy vọng.
Trở lại Mỹ, trong Devaki hiện lên dày đặc hơn những câu hỏi về căn tính. Bà không biết mình được đưa đi từ đâu, không biết mình bao nhiêu tuổi khi bị tách khỏi mẹ. Từ 6/1974 - khi bà chào đời - đến 1/1975 - bà được đưa vào cô nhi viện, có rất nhiều trận đánh đã xảy ra ở miền Tây. Không ai biết điều gì có thể chia cắt một đứa trẻ khỏi gia đình.
“Bạn nhận ra rằng mình không thuộc về nơi nào. Lớn lên ở Hoa Kỳ, nhưng sinh ra ở Việt Nam. Vậy, tôi thuộc về đất nước nào?”, bà tự vấn.
Một loạt câu hỏi cứ đeo bám bà sau đó: Nếu những người con đang cảm thấy loay hoay, thì những người mẹ có thực sự thanh thản? Người mẹ đã bị ly tán khỏi đứa con, dù họ chọn cho đứa bé đi hay vì lý do nào đó, có thể đã nghĩ về con suốt cả cuộc đời.
Năm 2024, Devaki trò chuyện với một người bạn bị ung thư, và nhận ra sự sống sót của bà sau thảm họa máy bay là một điều kỳ diệu.
“Cái chết không mang bạn đi được, như thể bạn có siêu năng lực và nó thách thức cái chết”, đứa trẻ trên chuyến bay Babylift đầu tiên chia sẻ.
Từ đó, bà nuôi ý tưởng tổ chức sự kiện “Khả năng bay bí mật” (Secret Ability to Fly) tại Colorado để nói lời cảm ơn đặc biệt đến những người đã chăm sóc, bảo vệ, nuôi nấng những đứa trẻ Babylift. Đó là lần đầu tiên bà được gặp những người con nuôi gốc Việt khác. Có người đem cả con theo, và bà nhận ra tầm quan trọng của việc cha, mẹ biết rõ con mình là ai và giữa họ luôn có một sợi dây kết nối. Việc tìm thấy gia đình ruột của cha mẹ cũng là để thế hệ sau biết về tổ tiên.
“Tôi nhận ra rằng khao khát được ở bên gia đình ruột thực sự mạnh mẽ”, bà nói.

Devaki tại một triển lãm Babylift. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Tại buổi gặp mặt “Trẻ mồ côi chiến tranh” ở Boulder tháng 3/2024, bà được tặng một món quà: mảnh vật liệu cách nhiệt C5A từ chiếc máy bay đã chở bà năm xưa.
Người tặng là soeur Mary Nelle, làm việc cho Friends for all children tại Sài Gòn từ năm 1972 đến trước 30/4/1975, với vai trò trợ lý cho giám đốc Rosemary Taylor. Họ tiếp nhận, chăm sóc, tổ chức di tản cho những đứa trẻ mồ côi. Khi Friends for all children đóng cửa vào cuối cuộc chiến, tất cả tài liệu, thư từ, những kỷ vật mà gia đình gửi theo những đứa bé đều bị tiêu hủy.
Bà Rosemary Taylor đã phục hồi các hồ sơ còn lại, cùng với những gì liên quan tới con nuôi được mọi người trao gửi. Bà lưu trữ tất cả tại văn phòng ở Colorado. Khi bà qua đời, soeur Mary Nelle đã tiếp quản chúng.
Không lâu sau, Devaki đến thăm soeur Mary Nelle tại một tầng hầm ở Colorado. Nữ tu đưa cho bà một tập hồ sơ để thử tìm manh mối về thân phận của mình.
“Tôi mở ngẫu nhiên tập hồ sơ trên cùng. Thật kỳ diệu, trong tất cả 33 thùng tài liệu, câu chuyện của tôi hiện ra trước mắt”, bà kể.
Tên bà xuất hiện trong danh sách những người sống sót sau tai nạn máy bay C5A của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID). Mimosa - một loài hoa - là cái tên mà những người chăm sóc tại cô nhi viện Tổ ấm đã đặt cho Devaki.
“Lần đầu tiên tôi nhìn tên mình trong một danh sách chính thức, bằng bản cứng đã úa màu thay vì nghe qua lời người khác kể lại. Tôi thấy như một mảnh ghép của quá khứ đã được đặt đúng vị trí”, bà bộc bạch.
Bà lật các mẫu đơn ghi rõ ngày Phượng đến trại trẻ mồ côi ở Vĩnh Long, lá thư xin nhận con nuôi viết tay của mẹ nuôi, và một số lựa chọn con nuôi đã bị gạch bỏ cho đến khi chỉ còn lại tên mình, ảnh chụp hồi lớp hai và lớp ba, giấy tờ ghi chép về sức khỏe, cập nhật việc nhận con nuôi của Cơ quan Nhập cư và quốc tịch Hoa Kỳ…
Sơ Rosemary J. Taylor của Friends for all children, xác nhận:
Trẻ Mimosa (Nguyễn Thị Mỹ Phượng, nữ), tại Trại trẻ mồ côi St. Paul de Chartres, Vĩnh Long, Việt Nam. Đứa trẻ này đã được Tòa sơ thẩm Vĩnh Long cấp giấy khai sinh ngày 15/8/1974, xác nhận tình trạng mồ côi và không rõ cha mẹ.
Đứa trẻ được giao cho Friends for all children chăm sóc với mục đích nhận con nuôi vào 15/1/1975 và được chăm sóc từ ngày này cho đến khi rời đi vào 5/4/1975.
Ở một văn bản khác:
“Tôi, Wende S. Grant, Giám đốc của Friends for all children, xin xác nhận rằng Nguyễn Thị Mỹ Phượng, sinh ngày 24/6/1974 tại Vĩnh Long, đã được giao cho Friends for all children để được nhận nuôi. Cha mẹ của em chưa bao giờ đến hỏi thăm em kể từ ngày đó”.
Hồ sơ của Devaki từ kho lưu trữ của Friends for all children ghi: Mimosa (tên sơ sinh), nữ, Nguyễn Thị Mỹ Phượng, sinh ngày 24 tháng 6 năm 1974, Việt Nam.Ảnh: Nhân vật cung cấp.




Điều bất ngờ với Devaki là suốt nhiều năm, bà chỉ biết một cái tên tiếng Việt của mình là Nguyễn Thị Mỹ Phượng từ giấy tờ đăng ký nhận nuôi. Nhưng khi tìm lại các giấy tờ sơ Rosemary Taylor đã lưu trữ, bà phát hiện manh mối mới.
Một bé gái tên Trần Ngọc An, sinh ngày 28/12/1973, từng được nuôi dưỡng ở Tu viện Dòng nữ tu Thánh Phaolô tại Vĩnh Long (St. Paul's Vinh Long), được chuyển đến cơ sở của Friends for all children ở Sài Gòn vào 15/01/1975. Tuy nhiên, do không có giấy khai sinh, em đã được ghép với giấy tờ mang tên Nguyễn Thị Mỹ Phượng.
“Tôi là Phượng hay An? Đó là mảnh ghép mà tôi chưa từng biết”, bà Devaki tâm sự.
Ở tuổi 82, soeur Mary Nelle muốn tìm một nơi để gửi gắm 33 thùng hồ sơ còn lại với hy vọng nó sẽ giúp kết nối những người con nuôi đang tìm gia đình ruột.
“Tôi sẽ làm”, bà Devaki nhận lời, với mong muốn làm gì đó cho những người như mình.
Đó không chỉ là hồ sơ của những người được nhận nuôi, mà còn có danh sách người sống sót và người thiệt mạng trong vụ rơi máy bay, danh sách các đoàn xe chở trẻ em của các hãng vận tải, các chuyến bay và ngày tháng trẻ rời đi, địa chỉ ngôi nhà chúng sẽ đến. Nhiều danh sách ghi lại tình trạng của trẻ em sau vụ tai nạn, danh sách tình nguyện viên, thư từ cá nhân, bài báo, cuộn phim, giấy khai sinh, hồ sơ tiếp nhận, ghi chú và hình ảnh của bọn trẻ những năm đầu đời…
“Những hồ sơ về hàng nghìn đứa trẻ là một hiện thực đau lòng, đẹp đẽ và kinh ngạc về chiến tranh, cuộc sống và cái chết. Chúng là một phần lịch sử cá nhân của tôi và hàng nghìn con nuôi khác”, bà nói.
Bà bắt đầu sắp xếp và phân loại, đối chiếu, chép lại thông tin của từng đứa trẻ Babylift vào tháng 4/1975. Và bà chợt nhận ra: Nếu điều này quan trọng với bà - một người không hề tìm kiếm quá khứ của mình - thì nó có ý nghĩa gì với người khác?
Như một định mệnh, Devaki được đặt vào tay dự án bảo tồn hàng ngàn hồ sơ và tài liệu từ tổ chức chăm sóc trẻ em trong cuộc chiến tại Việt Nam. Bà gia nhập Hiệp hội Lưu trữ Hoa Kỳ.
Bà trở thành một nhà lưu trữ “bất đắc dĩ”, học về lập danh mục, dữ liệu, định dạng mô tả, quản lý rủi ro và bảo vệ quyền riêng tư cũng như các quy định về tài liệu cá nhân.
Bằng cách sắp xếp, số hóa và lập chỉ mục bộ sưu tập này, bà muốn bảo tồn nó cho các thế hệ mai sau.
Con tìm mẹ
Việc tìm thấy mẹ và cha ruột đã chữa lành cho Huyền Friedlander - đứa trẻ cuối cùng, trên chuyến bay cuối cùng của Chiến dịch Babylift.
Sau chuyến đi Việt Nam năm 1996, bà trở thành nhà trị liệu cho những người chấn thương, đau buồn và mất mát. Ở cao học, bà đã nghiên cứu về vấn đề nhận con nuôi xuyên sắc tộc.
“Hầu hết mọi người không hiểu thế giới bên trong của những người con nuôi”, Huyền nói. “Đó cũng là những trải nghiệm đau đớn diễn ra trong chính tôi trước khi tìm thấy mẹ”.
Là một nhà trị liệu tinh thần, bà biết rằng theo lý thuyết gắn kết, người chăm sóc là những người đầu tiên phản chiếu ý thức về bản thân của đứa trẻ thông qua tương tác. Tất cả những người chăm sóc của Huyền đã đột ngột biến mất vào tháng 4 ấy.
“Tôi không còn biết mình là ai. Điều đó thực sự tổn thương, mặc dù lúc đó tôi không thể diễn tả”, bà nói.
Một nghiên cứu công bố năm 2000 của Đại học bang Ohio trên 169 con nuôi gốc Việt trong chiến tranh sống ở 10 thành phố của Mỹ cho biết: 76% trong số họ muốn gặp cha ruột khi đến Mỹ, nhưng chỉ có 30% biết tên cha mình. Khoảng 22% đã cố gắng liên lạc với cha và chỉ có 3% thực sự thành công trong việc gặp gỡ ông.
Họ là những đứa trẻ được sinh ra bởi quân nhân và thường dân Mỹ trong chiến tranh. Hầu hết không biết tên hoặc địa chỉ của cha mình. Thường thì, tất cả những gì chúng có chỉ là một bức ảnh đã phai màu hoặc câu chuyện truyền miệng từ mẹ.
Những chuyến bay qua nửa địa cầu như một cánh cửa đóng lại với rất nhiều người, đặc biệt với nhóm con nuôi 4 - 9 tuổi. Chúng từng nói tiếng Việt nhưng rồi hoàn toàn mất đi tiếng mẹ đẻ. Khi mới đến Mỹ, Huyền còn hát được bài hát Việt Nam. Sau này, bà mới biết các đứt gãy đó là do chấn thương tâm lý quá tàn khốc.

Huyền lần đầu tiên gặp cha mẹ nuôi - ông bà Pamela và Dan Friedlander - năm 1975. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Chân dung Huyền Friedlander chụp năm 1982. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Huyền bên mẹ ruột - bà Đềm. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Huyền lần đầu tiên gặp cha mẹ nuôi - ông bà Pamela và Dan Friedlander - năm 1975. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Chân dung Huyền Friedlander chụp năm 1982. Ảnh: Nhân vật cung cấp

Huyền bên mẹ ruột - bà Đềm. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
Ở tuổi quá 50, nhìn vào những bức ảnh chính mình khi mới đến Mỹ, Huyền mới thấy một đứa trẻ bị chấn thương hoàn toàn, đang bị phân tách, nhìn đi chỗ khác, không giao tiếp bằng mắt với những người xa lạ. Một bức tường tinh thần tự dựng lên đã ngăn cách hai thế giới trước và sau chuyến bay, bảo vệ Huyền khỏi nỗi đau sâu sắc về những gì đã mất, giúp bà cảm thấy an toàn với cuộc sống mới, đồng thời tách biệt khỏi quá khứ. Khoảng cách địa lý và chính trị đã khiến Việt Nam như ở một chiều không gian khác, và bà tự nói với mình rằng sẽ không bao giờ được về quê mẹ.
Tuy có một gia đình tuyệt vời, nhưng như mọi đứa trẻ lai lớn lên trong lòng nước Mỹ, Huyền “đã luôn khó khăn và bị cô lập”. Sống với những người xung quanh cao hơn mình rất nhiều, làn da khác màu và thường xuyên bị kỳ thị ở trường, cô bé đã luôn cảm thấy mình không đủ tốt.
“Khi mẹ ruột bỏ tôi lúc 4 tuổi, con người thật của tôi đã chết. Tôi trở thành đứa trẻ phục tùng, tìm kiếm sự an toàn, sợ xung đột, sợ làm phật ý mọi người vì sợ bị khước từ. Tôi đã đánh mất chính mình”, bà phân tích.
Trong khoảng hai tuần kể từ lúc rời Việt Nam đến ngày gặp gia đình nuôi, bà đã mất tất cả mọi thứ thuộc về mình: mẹ, gia đình và họ hàng, ngôi nhà và ngôn ngữ, thức ăn, văn hóa.
Khi bà đến Little Saigon, bước vào không gian nơi mọi người nói chuyện với mình bằng tiếng Việt, bà không hiểu và cảm thấy tội lỗi khi bị hỏi “sao không nói tiếng Việt”.
Khi làm việc với hàng trăm trường hợp con nuôi khác, nhà trị liệu nhận thấy họ có những tổn thương tương tự. Nhiều người có đau đớn chung rằng mình không được yêu thương, bị từ chối, hoặc mình đã gây ra điều tồi tệ. Các vấn đề phổ biến của họ là khủng hoảng bản sắc, sự tự chối bỏ bản thân thành hệ thống, bị phân biệt chủng tộc, cảm thấy lạc lõng, chật vật để hòa nhập, cảm thấy thấp kém vì không phải là người da trắng và thậm chí mặc cảm ngoại hình.
Vì vậy, phần rất quan trọng của quá trình chữa lành là phải giành lại quyền kiểm soát cuộc sống. Với bà, đó là việc kết nối với quê mẹ.

Những người con nuôi Babylift tụ họp tại TP HCM năm 2025, trong chuyến về quê mẹ 50 năm sau Chiến dịch không vận. Ảnh: Nhân vật cung cấp
Tháng 9 năm ngoái, Huyền cùng một nhóm con nuôi Babylift đã đạp xe dọc Đồng bằng sông Cửu Long. Hầu hết trong số họ vẫn đang tìm kiếm mẹ ruột.
Khi nghỉ ngơi tại Thới Lai (Cần Thơ), một người trong nhóm - Lê Mỹ Hương, 52 tuổi - nảy ra một ý tưởng: Tiếp cận các gia đình Việt Nam để tìm mẹ.
Là một đứa trẻ Babylift đã qua trải nghiệm đau thương khi bị người từng bắt cóc lừa là mẹ ruột mình suốt 47 năm, làm con nuôi ở Úc và bị ngược đãi, Mỹ Hương thấu hiểu tầm quan trọng của việc tìm đúng người.
Khi trở lại Việt Nam năm 2004, bà đoàn tụ với gia đình tự nhận là ruột thịt của bà. Nhưng rồi 14 năm sau, bà phát hiện sự thật đau lòng rằng đó là mẹ giả, mình đã bị họ bắt cóc và lừa dối từ khi còn bé.
“Tôi hoàn toàn tan vỡ”, bà Mỹ Hương kể. “May thay, tôi tìm được mẹ thật của mình. Đó là sự chữa lành. Sau nhiều thập kỷ sống trong lừa dối, tôi vẫn đang học cách gánh vác sức nặng của sự thật”.
Hơn hai thập kỷ qua, Mỹ Hương đã giúp rất nhiều người con nuôi về Việt Nam tìm mẹ và nhận ra, hầu hết câu trả lời nằm ở trong cộng đồng chứ không phải trên giấy tờ nhận nuôi. Bởi phần lớn giấy tờ sai thông tin, người con nuôi không thể biết tên mình là thật hay giả. Sau nhiều trải nghiệm, bà tin chìa khóa để tìm kiếm gia đình ruột là thông qua xét nghiệm ADN và khớp mẫu trên các ngân hàng gene toàn cầu.
Tất cả đều đồng ý đó là một giải pháp hay, và 4 người gồm Huyền, Mỹ Hương, Era Goodland, và Jane Joy đã quyết định cùng lập tổ chức Con tìm mẹ - một nền tảng để đoàn tụ nhân thân bằng mẫu ADN.
Con tìm mẹ ra đời như một dự án phi lợi nhuận, kêu gọi sự hỗ trợ từ nhiều nguồn, với mục tiêu kết nối những người con và cha mẹ đang tìm kiếm nhau, thông qua chia sẻ hình ảnh và thông tin. Người tham gia được nhận những bộ dụng cụ xét nghiệm ADN miễn phí, vốn thường tốn ít nhất khoảng 50 USD. Mẫu sẽ được đưa lên Ngân hàng ADN tại châu Âu và châu Mỹ như MyHeritage với khoảng 9 triệu hồ sơ ADN, Ancestry với hơn 30 triệu mẫu… để so khớp trên diện rộng.

Những người thuộc nhóm sáng lập và điều hành Con tìm mẹ. Từ trái sang phải: Jane, Mỹ Hương, Era, Ngọc Vàng, Huyền. Ảnh: Nhân vật cung cấp.
Bắt đầu hoạt động từ tháng 9/2025, Con tìm mẹ đã khớp được 5 cặp nhân thân, trong đó thực hiện được 3 cuộc đoàn tụ - hai người con nuôi ở Pháp và một ở Mỹ.
“Nếu không nhờ khớp mẫu ADN, họ sẽ không bao giờ tìm thấy nhau, vì giấy tờ của họ đều sai”, bà Mỹ Hương nói.
Thay vì đối chiếu 1-1, dự án Con tìm mẹ hướng tới tập hợp ADN của các con nuôi ở nước ngoài, song song với tiếp cận và lấy mẫu của những người mẹ ở Việt Nam. Số lượng mẫu càng lớn, khả năng khớp mẫu càng cao.
“Mỗi năm trôi qua, cánh cửa hy vọng đoàn tụ của nhiều người càng thu hẹp lại”, Mỹ Hương nói. Bà kể, mới đây, một gia đình Việt gửi cho bà bức ảnh người mẹ 83 tuổi vẫn đang tìm kiếm người con trai đã mất tích từ lâu. Nhìn khuôn mặt buồn bã ấy, bà nhận ra lý do tại sao việc tìm kiếm nhân thân lại cần thiết.
“Những người mẹ và những đứa trẻ vẫn đang chờ được tìm thấy nhau”, Mỹ Hương nói.
Tổ chức Con tìm mẹ tin rằng hành trình kết nối lại với cội nguồn và cũng chính là tìm lại bản sắc của mỗi cá nhân sau những mất mát không thể đong đếm. Họ hy vọng trong tương lai, Chính phủ sẽ mở ra cơ hội xét nghiệm ADN trên diện rộng với chi phí rẻ và thuận tiện hơn cho mọi người.
“Việc cơ quan nhà nước cả hai quốc gia, Việt Nam và Mỹ, cung cấp thông tin lưu trữ dễ dàng tiếp cận cho mọi người sẽ giúp hàn gắn những vết thương do sự chia ly gây ra”, Huyền chia sẻ.

Những người con nuôi chiến tranh gặp nhau tại Sài Gòn, 2025. Ảnh: Lê Thị Huyền
Với mục tiêu tương tự, Devaki đang thực hiện sứ mệnh ấy theo cách khác.
Những câu hỏi và 33 thùng hồ sơ đưa bà trở lại Việt Nam lần thứ hai, vào tháng 5/2026. Bà đến những trung tâm lưu trữ quốc gia, nơi bà tìm thấy hàng ngàn tài liệu liên quan đến các sự kiện con nuôi trong chiến tranh. Cuối hành trình, bà quay lại Vĩnh Long chỉ để cảm nhận nơi mình chào đời trong yên lắng.
“Tôi biết cơ hội để tìm được manh mối nào đấy rất mong manh và tôi không kỳ vọng nhiều. Tôi chỉ đến đó, đi quanh và chiêm nghiệm rằng cuộc sống năm 2026 sẽ như thế nào nếu tôi đã không rời Việt Nam vào những ngày cuối của cuộc chiến”, Devaki nói.
Trong thâm tâm, bà vẫn khao khát tìm phần ký ức “đã luôn không có”. Đối với những người con nuôi như bà, việc tìm kiếm được nguồn gốc của mình giống như một sự thừa nhận.
Với di sản lưu trữ của Friends for all children, Devaki và các cộng sự của bà vẫn đang kết nối những con nuôi Babylift tại Mỹ, trao tặng hồ sơ tận tay từng người.
“Việc chứng kiến lịch sử hiện ra như một phép màu khi thấy tên mình trong di sản chiến tranh rất quan trọng. Một mẩu thông tin nhỏ bé về sự thật có ý nghĩa rất lớn đối với người không biết gì”, bà nói.
Theo bà, ngoài những hồ sơ bà đang có, còn rất nhiều trường hợp nhận con nuôi riêng lẻ khác. Vì vậy, với những người mẹ đang tìm con, rất cần một nơi thu thập và lưu trữ tất cả hồ sơ hợp nhất từ các nguồn khác nhau.
“Tôi hy vọng Chính phủ cả hai nước có thể thành lập một cơ quan để làm chỗ dựa cho những người con của cuộc chiến”, bà nói. “Và cần một cộng đồng đầy lòng trắc ẩn để di sản phức tạp của cuộc chiến không bị coi là vấn đề cá nhân của những người được sinh ra tại điểm giao thoa của lịch sử”.
Là những nạn nhân yếu thế nhất của chiến tranh, những đứa trẻ mồ côi năm xưa cho tới nay vẫn phải tự mình lần trong màn sương mờ của lịch sử để tìm câu trả lời cho chính mình.
Nội dung: Hồng Phúc - Kim Hoa
Ảnh: Phùng Tiên
Đồ hoạ: Tâm Thảo - Thanh Hạ








