Quảng Cáo
0943778078
Hệ sinh thái carbon xanh dương giúp bảo vệ bờ và lưu trữ carbon, tạo sinh kế từ nuôi trồng thủy sản các ngành nghề gắn với tài nguyên bản địa.
Tại hội thảo về nâng cao hiệu quả quản lý khu bảo tồn biển tổ chức hồi tháng 4/2026, đại diện Cục Thủy sản và Kiểm ngư, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết biển và vùng ven biển Việt Nam là không gian sinh thái, kinh tế và sinh kế đặc biệt quan trọng, góp phần bảo đảm sinh kế cho khoảng 20 triệu người dân ven biển. Việt Nam hiện đặt mục tiêu diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia vào năm 2030.
Một ví dụ về sinh kế từ hệ sinh thái carbon xanh dương là cỏ năn tượng. Loại cỏ này còn gọi là hến biển, sinh trưởng tự nhiên tại một số vùng đất ngập nước ven biển ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Cỏ năn tượng được người dân phơi khô trước khi tách sơi. Ảnh: VnExpress
Những năm gần đây, loài cây này được khai thác làm nguyên liệu đan lát tại xã Hòa Tú, Cần Thơ. Sau khi thu hoạch, thân cỏ được phơi khô, tách sợi rồi đan thành các sản phẩm thủ công. Một số sản phẩm được đưa vào chuỗi xuất khẩu sang các thị trường như Mỹ, Australia, Nhật Bản.
Nguồn sinh kế mới đã tạo thêm việc làm cho nhiều lao động địa phương. Một số hộ dân chuyển diện tích nuôi tôm kém hiệu quả sang trồng năn tượng. Số liệu năm 2023, với diện tích khoảng 1.000 m2 có thể thu khoảng 10 tấn cỏ tươi, mang lại thu nhập khoảng 8 triệu đồng, chưa kể nguồn thu từ tôm, cua nuôi kết hợp.
Câu chuyện này cho thấy giá trị khác của hệ sinh thái ven biển gắn trực tiếp với sinh kế của cộng đồng địa phương, bên cạnh việc lưu trữ carbon, hỗ trợ giảm phát thải. Nếu được quản lý phù hợp, các hoạt động dựa vào tài nguyên bản địa có thể vừa tạo sinh kế, vừa giúp duy trì không gian sinh thái của vùng đất ngập nước.
Sinh kế từ bảo tồn hệ sinh thái
Ở nhiều quốc gia, hệ sinh thái carbon xanh dương đang trở thành nguồn sinh kế cho cộng đồng ven biển. Rừng ngập mặn, bãi triều và thảm cỏ biển là nơi nuôi dưỡng tôm, cua, cá, đồng thời hỗ trợ các hoạt động du lịch sinh thái, nghề thủ công và dịch vụ cộng đồng.Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) cho biết rừng ngập mặn cung cấp nhiều hàng hóa và dịch vụ, từ thủy sản, động vật thân mềm đến giữ trầm tích và giảm tác động của sóng, bão. Lá rụng và chất hữu cơ từ rừng ngập mặn cũng là nguồn thức ăn cho các loài thủy sản, góp phần nuôi sống hàng triệu người.
Tại Kenya, dự án Mikoko Pamoja ở vịnh Gazi là một ví dụ nổi bật. Đây là dự án cộng đồng về bảo tồn và phục hồi rừng ngập mặn, đồng thời là dự án carbon xanh dương đầu tiên trên thế giới. Dự án thu hút sự tham gia của hơn 1.000 hộ gia đình, bảo vệ, trồng và phục hồi 117 ha rừng ngập mặn (tương đương 1,17 triệu cây). Thông qua cơ chế chia sẻ lợi ích, nguồn thu từ tín chỉ carbon được sử dụng để hỗ trợ các công trình cộng đồng như nước sạch, trường học và vệ sinh môi trường, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Người dân đánh bắt thủy hải sản tại rừng ngập mặn. Ảnh: Pexels
Tại Indonesia, các cộng đồng ven biển tại Sumatra đã tích cực phục hồi rừng ngập mặn sau tổn thất nặng nề từ thảm họa sóng thần năm 2004. Dự án do Quỹ Livelihoods (Livelihoods Funds) và tổ chức Yagasu triển khai, đã trồng thành công 18 triệu cây ngập mặn trên diện tích hơn 5.000 ha, với sự tham gia của 125 cộng đồng. Khi rừng phục hồi, người dân phát triển thành công mô hình lâm ngư kết hợp, đồng thời bảo vệ rừng ngập mặn và nuôi thủy sản đa loài trong rừng.
Mô hình này giúp thu hút cá, tôm, cua về sinh sống, tạo nguồn thu đa dạng hơn cho ngư dân. Một số cộng đồng còn tận dụng sản phẩm phụ từ rừng ngập mặn để làm màu nhuộm tự nhiên, bánh, mứt và vải batik, mở thêm sinh kế ngoài đánh bắt.
Nguồn tài nguyên cần bảo vệ
Các ví dụ trên cho thấy sinh kế từ hệ sinh thái carbon xanh dương không chỉ đến từ việc khai thác tài nguyên trực tiếp. Một hệ sinh thái khỏe mạnh còn tạo điều kiện để người dân có thêm nhiều nguồn thu: đánh bắt thủy sản, nuôi trồng quảng canh, thu hái nguyên liệu bản địa, làm du lịch cộng đồng, sản xuất thủ công hoặc tham gia bảo vệ rừng.
Tại Việt Nam, một số mô hình tương tự cũng đang được triển khai hiệu quả. Điển hình tại vùng phá Tam Giang (Huế), phụ nữ địa phương đã chủ động tham gia trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng ngập mặn; từ đó phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng. Du khách được trải nghiệm chèo SUP xuyên qua những cánh rừng, bắt cua, cá và khám phá cảnh quan sinh thái đặc trưng. Một hợp tác xã du lịch cộng đồng tại khu vực này có 30 xã viên, mang lại nguồn thu nhập bình quân khoảng 300.000 đồng/người/ngày trong các tháng cao điểm du lịch hè.
Tàu cá của ngư dân hoạt động đánh bắt thủy sản tại khu vực ven biển. Ảnh: Pexels
Cũng tại đây, dự án của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Xã hội (CSRD) giai đoạn 2025-2028 dự kiến thành lập vườn ươm cây ngập mặn do cộng đồng quản lý, mỗi năm cung cấp 15.000-20.000 cây giống. Phụ nữ tham gia quản lý vườn ươm, ươm giống và tái trồng rừng, qua đó có thêm cơ hội việc làm và tiếng nói trong cộng đồng.
Từ cỏ năn tượng ở Đồng bằng sông Cửu Long đến rừng ngập mặn ở Kenya, Indonesia hay phá Tam Giang, điểm chung là sinh kế của cộng đồng luôn gắn liền với sức khoẻ của hệ sinh thái. Nói cách khác, phát triển kinh tế biển chỉ thực sự bền vững khi đi đôi với bảo tồn.
Nếu rừng ngập mặn bị tàn phá, bãi triều bị san lấp và thảm cỏ biển suy thoái, người dân không chỉ mất một phần hệ sinh thái tự nhiên, mà còn mất nơi sinh sản của các loài thủy sản, mất lớp đệm trước thiên tai và mất nguyên liệu cho nhiều nghề phụ trợ. Ngược lại, khi hoạt động bảo tồn được thiết kế cùng cộng đồng, người dân sẽ trở thành lực lượng tích cực và chủ chốt trong việc bảo vệ hệ sinh thái. Họ hiểu giá trị của rừng, bãi triều, vùng đất ngập nước vì những giá trị đó gắn liền với bữa ăn hàng ngày, nguồn thu nhập ổn định và sự an toàn của gia đình.
Văn Hà








