Theo Quy hoạch điện VIII, đến năm 2030, VN cần khoảng 150.000 MW công suất nguồn điện. Đến năm 2050, nhu cầu có thể tăng lên khoảng 490.000 - 573.000 MW. Trong bối cảnh nhu cầu điện tiếp tục tăng, phát triển những nguồn điện ổn định, tin cậy trở thành yêu cầu quan trọng. Trong bài toán đó, điện hạt nhân (ĐHN) được xem là một lựa chọn chiến lược. Hai dự án ĐHN Ninh Thuận 1 (xã Phước Dinh) và Ninh Thuận 2 (xã Vĩnh Hải) tại tỉnh Khánh Hòa được quy hoạch với tổng công suất dự kiến 4.000 - 6.400 MW, dự kiến vận hành trong giai đoạn 2030 - 2035.

Dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 được kỳ vọng tạo thêm động lực phát triển hệ sinh thái công nghiệp, dịch vụ ở vùng đất khô hạn
ẢNH: KỲ NAM
TỪ NGUỒN ĐIỆN ĐẾN HỆ SINH THÁI CÔNG NGHIỆP
Theo Quyết định 794/QĐ-TTg ngày 8.6.2015 của Thủ tướng Chính phủ, tổng diện tích thu hồi đất phục vụ 2 dự án ĐHN khoảng 1.279,5 ha. Trong đó, dự án ĐHN Ninh Thuận 1 là 544,1 ha và Ninh Thuận 2 là 453,9 ha; diện tích còn lại dành cho khu tái định cư, khu dân cư chỉnh trang và hạ tầng cơ sở.
Tuy nhiên, tác động của chương trình ĐHN không chỉ nằm ở sản lượng điện. Một trong những vấn đề đặt ra là VN có thể tận dụng quá trình triển khai dự án để phát triển năng lực công nghiệp, công nghệ và nhân lực trong nước đến đâu.
PGS-TS Vương Hữu Tấn, nguyên Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử VN, cho rằng cùng với triển khai dự án ĐHN Ninh Thuận, VN cần xác định rõ mục tiêu làm chủ và nội địa hóa công nghệ. Đây cũng là cơ sở quan trọng để đàm phán với các đối tác trước khi ký hợp đồng.

Người dân xã Vĩnh Hải đã nhận tiền bồi thường giải phóng mặt bằng, sẵn sàng nhường đất cho dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận 2
ẢNH: KỲ NAM
Theo ông Tấn, nếu đặt mục tiêu trở thành nhà cung cấp công nghệ như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc hay Pháp, VN phải xây dựng các chương trình phát triển công nghiệp quốc gia đi kèm. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy quá trình làm chủ công nghệ hạt nhân cần thời gian, nguồn lực và chương trình phát triển dài hạn.
Vào năm 1972, Hàn Quốc bắt đầu xây dựng nhà máy ĐHN đầu tiên, sử dụng lò phản ứng công nghệ PWR với công suất 600 MW của Công ty Westinghouse (Mỹ). Đến năm 1977 bắt đầu hoạt động và năm 1978 vận hành thương mại. Sau đó, 8 lò phản ứng khác được xây dựng. Như vậy, Hàn Quốc phải trải qua khoảng 10 dự án ĐHN trước khi tự chủ hoàn toàn công nghệ. Trong khi đó, Trung Quốc phát triển ĐHN từ năm 2010 và chỉ cần 4 dự án để tiến tới tự chủ công nghệ ĐHN nhập khẩu từ Westinghouse. "Vấn đề mấu chốt là xây dựng một chương trình phát triển ĐHN dài hạn của quốc gia với mục tiêu, nhiệm vụ và nguồn lực rõ ràng", TS Tấn nhận định.

Ruộng hành ở thôn Thái An, xã Vĩnh Hải, khu vực triển khai dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận 2
ẢNH: KỲ NAM
Theo ông Tấn, cần tập trung 4 vấn đề gồm: kiện toàn ban chỉ đạo xây dựng nhà máy ĐHN và bổ sung các nhóm chuyên gia tư vấn; kiện toàn chủ đầu tư, tổ chức vận hành nhà máy; tăng cường năng lực cho cơ quan pháp quy hạt nhân quốc gia; đồng thời hình thành, phát triển hệ sinh thái của chương trình phát triển ĐHN quốc gia. Hệ sinh thái này không chỉ gồm những tổ chức trực tiếp vận hành nhà máy mà còn bao gồm các chương trình đào tạo nhân lực và phát triển công nghiệp trong những lĩnh vực như vật liệu, cơ khí, hóa chất, điện, điện tử, xây lắp...
"ĐHN là ngành công nghiệp có yêu cầu cao về công nghệ, an toàn, nhân lực và quản trị. Phía sau một tổ máy là chuỗi công nghệ phức tạp, từ thiết kế lò phản ứng, hệ thống an toàn, kiểm soát bức xạ, cơ khí chính xác, điện - tự động hóa, vật liệu, bảo trì, vận hành đến đào tạo nhân lực, logistics, quản lý chất lượng và hệ thống pháp lý. Vì vậy, nếu chương trình được triển khai đồng bộ, nhu cầu về các ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ cũng có thể gia tăng", ông Tấn nhận định.
CƠ HỘI CHO PHÍA NAM KHÁNH HÒA
Tại khu vực phía nam Khánh Hòa, những thay đổi về hạ tầng đã bắt đầu được nhìn thấy. Tỉnh đang triển khai 2 khu đô thị tái định cư cùng hệ thống giao thông, điện, nước, viễn thông, y tế, giáo dục, nhà ở... Từ một vùng đất chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đánh bắt và các hoạt động kinh tế quy mô nhỏ, khu vực này có thể từng bước hình thành những ngành nghề và không gian kinh tế mới.

Vùng đất Ninh Thuận (cũ) nhiều nắng, gió, nằm ven biển, được lựa chọn triển khai các dự án điện hạt nhân
ẢNH: KỲ NAM
UBND tỉnh Khánh Hòa đang kêu gọi đầu tư giai đoạn 2026 - 2030 với 231 dự án, trên diện tích khoảng 17.072 ha, trải rộng ở các lĩnh vực đô thị, công nghiệp - chế biến chế tạo, năng lượng, y tế, giáo dục, KH-CN. Riêng phía nam tỉnh, nhiều dự án như Khu đô thị mới Đầm Cà Ná, Khu đô thị biển Bình Sơn - Ninh Chữ, Khu đô thị mới Phủ Hà và các khu công nghiệp Cà Ná, Du Long, Nam Cam Ranh... đang được đề xuất. Nếu được triển khai và kết nối đồng bộ với hạ tầng năng lượng, giao thông và công nghiệp, các dự án này có thể góp phần hình thành một không gian đô thị - kinh tế mới ở phía nam Khánh Hòa.
Nhưng để những kỳ vọng đó trở thành hiện thực, yếu tố quyết định không chỉ là quy mô đầu tư mà còn là khả năng hình thành nguồn nhân lực phù hợp. Chỉ riêng nhu cầu nhân lực đến năm 2030, Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 1 cần khoảng 1.920 người, Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 2 cần khoảng 1.980 người, với trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học. Con số này cho thấy nhu cầu đào tạo lớn, đồng thời mở ra cơ hội việc làm cho lao động địa phương. Nếu được triển khai đồng bộ, dự án có thể tạo thêm việc làm trong xây dựng, cơ khí, vận tải, hậu cần, lưu trú, thương mại, dịch vụ kỹ thuật, góp phần chuyển dịch cơ cấu việc làm sang những lĩnh vực đòi hỏi kỹ năng, trình độ cao hơn.

Xã Phước Dinh, nơi triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, là làng chài ven biển, người dân chủ yếu sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ
ẢNH: KỲ NAM
Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu phát triển tiềm lực KH-CN hạt nhân, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao. Đến năm 2030, VN phấn đấu có khoảng 2.000 nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu - triển khai, hỗ trợ kỹ thuật; bổ sung 120 giảng viên các chuyên ngành ĐHN và đủ nhân lực phục vụ các dự án Ninh Thuận 1, Ninh Thuận 2. Đến năm 2050, năng lượng nguyên tử được định hướng trở thành ngành kinh tế - kỹ thuật, đóng góp vào an ninh năng lượng, kinh tế xanh và phát triển bền vững; ĐHN được kỳ vọng chiếm 6 - 8% tổng sản lượng điện quốc gia.
Như vậy, giá trị của chương trình ĐHN không chỉ được đo bằng số MW bổ sung cho hệ thống điện. Một phần quan trọng khác nằm ở việc VN có thể xây dựng năng lực công nghệ, nhân lực và công nghiệp hỗ trợ đến đâu trong quá trình triển khai dự án. Đó cũng là điều kiện để những kỳ vọng về một hệ sinh thái công nghiệp - đô thị - dịch vụ ở phía nam Khánh Hòa trở thành kết quả thực tế. (còn tiếp)

19 minutes ago
4




