Giảm áp lực vốn cho hệ thống ngân hàng

1 hour ago 6
Quảng Cáo

0943778078

Ngân hàng (NH) Nhà nước đang lấy ý kiến góp dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 22/2019 - quy định các giới hạn, tỉ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động NH. Trong đó, NH Nhà nước đề xuất nâng tỉ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% hiện nay lên 40%.

Thêm 1,5 triệu tỉ đồng để cho vay

Ban soạn thảo dự thảo thông tư cho biết việc điều chỉnh nêu trên là nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ về thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu vốn cho kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030, hướng tới mục tiêu tăng trưởng 2 con số gắn với ổn định kinh tế vĩ mô.

Giảm áp lực vốn cho hệ thống ngân hàng - Ảnh 1.

Việc nâng tỉ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ giúp các ngân hàng thương mại có thêm nguồn lực để cho vay .Ảnh: TẤN THẠNH

Ông Nguyễn Danh Thái, chuyên gia phân tích vĩ mô của Công ty CKG Việt Nam, cho rằng việc nâng trần thêm 10 điểm % có thể giải phóng lượng "hạn mức kỹ thuật" lên tới khoảng 1,5 triệu tỉ đồng, dựa trên quy mô tiền gửi toàn hệ thống khoảng 16,5 triệu tỉ đồng, trong đó khoảng 91% là tiền gửi ngắn hạn. Theo ông, trong bối cảnh cuộc đua lãi suất huy động, nhất là các kỳ hạn dài, đang nóng lên do áp lực mất cân đối kỳ hạn, đề xuất nâng trần lên 40% được xem là một bước ngoặt.

"Với quy định mới, các NH thương mại sẽ có thêm dư địa điều hòa nguồn vốn, giảm áp lực phải đẩy lãi suất huy động kỳ hạn dài lên mức 8%-9%/năm. Đồng thời, các NH cũng giảm phụ thuộc vào những kênh huy động vốn có chi phí cao như phát hành trái phiếu hoặc chứng chỉ tiền gửi dài hạn để đáp ứng các chỉ tiêu an toàn" - ông Thái nhận định.

Bà Đoàn Thị Ánh Nguyệt, chuyên gia cao cấp ngành tài chính của Công ty Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), nhìn nhận đề xuất của NH Nhà nước được đưa ra trong bối cảnh thanh khoản hệ thống đang chịu áp lực khi tăng trưởng tín dụng liên tục vượt tốc độ tăng huy động, trong khi chênh lệch kỳ hạn giữa nguồn vốn và cho vay ngày càng lớn.

Theo bà Nguyệt, hiện nay, khoảng 80% nguồn vốn huy động của hệ thống NH là tiền gửi ngắn hạn, trong khi dư nợ trung và dài hạn chiếm gần 50% tổng dư nợ. Thời gian tới, nhu cầu vốn trung, dài hạn được dự báo sẽ tiếp tục tăng khi hàng loạt dự án hạ tầng và đầu tư quy mô lớn được triển khai trên cả nước.

"Nếu dự thảo được thông qua, các tổ chức tín dụng sẽ có thêm dư địa cân đối nguồn vốn, giảm sức ép huy động vốn kỳ hạn dài và cải thiện khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế" - bà Nguyệt đánh giá.

Kiểm soát chặt dòng vốn

Theo các chuyên gia, việc nới giới hạn này sẽ tạo thêm dư địa cho các tổ chức tín dụng mở rộng tín dụng, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, đi kèm với đó là rủi ro mất cân đối kỳ hạn nếu dòng vốn không được kiểm soát chặt chẽ.

Thực tế, tín dụng thời gian qua vẫn tăng nhanh hơn huy động vốn, khiến áp lực thanh khoản chưa giảm đáng kể. Khi sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ các khoản vay trung và dài hạn, hệ thống NH sẽ nhạy cảm hơn với biến động lãi suất và tỉ giá.

Trao đổi với phóng viên ngày 18-6, TS Đinh Thế Hiển cho rằng đề xuất của NH Nhà nước phần nào đi ngược lộ trình nhiều năm qua nhằm giảm dần tỉ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn để lành mạnh hóa hệ thống NH. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, đây cũng là giải pháp giúp tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế mà không phải mở rộng cung tiền. Bởi lẽ, nếu tăng cung tiền sẽ tạo áp lực lạm phát và làm gia tăng nguy cơ dòng vốn chảy vào các kênh đầu cơ. Trong khi đó, việc nâng tỉ lệ từ 30% lên 40% sẽ giúp các NH thương mại có thêm nguồn lực để cho vay.

TS Đinh Thế Hiển lưu ý cần kiểm soát chặt mục đích sử dụng vốn, nhất là khi tỉ lệ dư nợ tín dụng trên GDP của Việt Nam ở mức cao và nhiều lần được các tổ chức tài chính quốc tế cảnh báo. "Cần kiểm soát, giám sát để dòng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn không chảy vào các lĩnh vực rủi ro, mang tính đầu tư, để vốn chảy vào sản xuất - kinh doanh nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững. Muốn vậy, đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ của NH Nhà nước" - TS Đinh Thế Hiển nhấn mạnh.

Bà Đoàn Thị Ánh Nguyệt cũng góp ý khi nâng tỉ lệ từ 30% lên 40%, cơ quan điều hành cần định hướng dòng tín dụng bổ sung vào sản xuất, đầu tư để tạo ra tăng trưởng thực, thay vì để dòng vốn tập trung vào các tài sản dài hạn như bất động sản. Rủi ro sẽ phát sinh nếu lượng tín dụng tăng thêm chảy vào các tài sản có tính chu kỳ cao, hoặc khi các NH sử dụng quá nhiều vốn ngắn hạn để tài trợ các khoản vay trung, dài hạn mà không có bộ đệm thanh khoản phù hợp.

"Cần tăng cường giám sát mục đích sử dụng vốn sau giải ngân, hạn chế tình trạng vốn vay bị chuyển hướng sang đầu cơ tài sản. Về trung và dài hạn, giải pháp căn cơ là phát triển thị trường vốn, bao gồm thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp, giúp giảm áp lực cung ứng nguồn vốn đầu tư tăng trưởng đối với tín dụng NH" - bà Nguyệt đề xuất.

Trong khi đó, ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM (HUBA), cho rằng cả nước đang triển khai nhiều dự án đầu tư công và hạ tầng quy mô lớn, với nhu cầu vốn rất lớn. Đây là tín hiệu tích cực cho tăng trưởng nhưng cũng có thể tạo sức ép cạnh tranh nguồn vốn với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Theo ông Hòa, nếu các dự án lớn thu hút phần lớn nguồn tín dụng, doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận vốn, từ đó gây áp lực lên mặt bằng lãi suất. Vì vậy, cần có chính sách phân bổ tín dụng hợp lý để vừa đáp ứng nhu cầu vốn cho các dự án trọng điểm vừa bảo đảm doanh nghiệp sản xuất - kinh doanh vẫn tiếp cận được nguồn vốn với chi phí phù hợp. 

Tạo thêm dư địa tín dụng

Ngay từ đầu năm, NH Nhà nước đã định hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất - kinh doanh và các ngành ưu tiên, đồng thời kiểm soát dòng vốn vào bất động sản. Theo đó, dư nợ tín dụng bất động sản hiện được kiểm soát ở khoảng 25% tổng dư nợ toàn hệ thống. Tốc độ tăng trưởng tín dụng bất động sản tại từng NH cũng không được vượt tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của chính NH đó.

Theo các chuyên gia, vấn đề cốt lõi không phải là việc nâng tỉ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn, mà là ở cơ chế giám sát dòng vốn và quản trị thanh khoản theo chuẩn mực quốc tế. "Nếu các cơ chế giám sát dòng vốn và quản trị thanh khoản được thực thi hiệu quả, việc nâng tỉ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn có thể tạo thêm dư địa tín dụng cho nền kinh tế mà không làm gia tăng đáng kể rủi ro đối với sự ổn định của toàn hệ thống" - một chuyên gia kinh tế nhìn nhận.

Read Entire Article